Ảnh minh họa
VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
Gắn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quy trình lập, thẩm định và triển khai các quy hoạch, đề án, dự án, nhiệm vụ của Thành phố
Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 11/4/2026 gắn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quy trình lập, thẩm định và triển khai các quy hoạch, đề án, dự án, nhiệm vụ của Thành phố.
Nhằm đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành trục xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời là động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp; Chủ tịch UBND Thành phố yêu cầu Giám đốc, Thủ trưởng các Sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các xã, phường; người đứng đầu các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Thành phố và đề nghị các cơ quan, đơn vị, đoàn thể, tổ chức thực hiện một số nội dung:
1. Về nguyên tắc: Khoa học và công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) là yêu cầu bắt buộc, phải được tích hợp ngay từ khâu đề xuất và xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước (bao gồm lập, thẩm định, phê duyệt, triển khai, theo dõi, đánh giá các quy hoạch, đề án, dự án, nhiệm vụ) của Thành phố; đồng thời được khuyến khích áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội của Thủ đô.
Việc tích hợp phải hướng tới nâng cao hiệu suất, hiệu quả, tạo giá trị gia tăng và đo lường được bằng kết quả cụ thể; bảo đảm không phát sinh thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờ không cần thiết, không làm tăng chi phí tuân thủ; tăng cường hậu kiểm, kiểm soát bằng kết quả đầu ra và dữ liệu vận hành.
Kết quả tích hợp phải được theo dõi, giám sát, đánh giá thường xuyên, ưu tiên dữ liệu thời gian thực; có cơ chế cập nhật, điều chỉnh kịp thời nhằm bảo đảm tính tối ưu trong quá trình triển khai.
2. Yêu cầu thực hiện về tích hợp khoa học và công nghệ: Toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước của Thành phố phải dựa trên các tiến bộ khoa học, công nghệ đã được kiểm chứng và dữ liệu xác thực; phải xác định rõ nội dung ứng dụng khoa học, công nghệ và giá trị tri thức tạo ra trong quá trình thực hiện.
Mọi nội dung, khía cạnh đều phải được xem xét ứng dụng và tích hợp công nghệ ngay từ đầu; trường hợp không áp dụng phải làm rõ lý do; ưu tiên các công nghệ tiên tiến, hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, đặc biệt là các sản phẩm, giải pháp do Việt Nam làm chủ hoặc có khả năng tiếp nhận, làm chủ.
Việc tích hợp phải bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình kỹ thuật; đáp ứng yêu cầu về kết nối, liên thông, đồng bộ, an toàn, khả năng mở rộng và vận hành ổn định, lâu dài.
Về tích hợp đổi mới sáng tạo: Trong mọi nhiệm vụ, dự án và hoạt động quản lý, điều hành hằng ngày phải đặt mục tiêu tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có; đồng thời chủ động rà soát, nhận diện các điểm nghẽn, bất cập để làm cơ sở đề xuất nội dung đổi mới sáng tạo.
Nội dung đổi mới phải gắn với nhu cầu thực tiễn, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; khuyến khích sự tham gia của tổ chức, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục, chuyên gia, nhà khoa học và các chủ thể liên quan trong quá trình đề xuất và triển khai.
Triển khai thí điểm hoặc thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới theo quy định; có phương án nhân rộng sau khi thí điểm, thử nghiệm hiệu quả, thành công.
Về tích hợp chuyển đổi số: Toàn ngành, lĩnh vực phải chuyển đổi toàn diện phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số; từng bước thay thế các phương thức truyền thống bằng phương thức số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch.
Các hoạt động quản lý nhà nước phải được tổ chức, vận hành trên môi trường số, bảo đảm thông suốt, liền mạch; việc cung cấp dịch vụ phục vụ người dân, doanh nghiệp phải thuận tiện, kịp thời, dễ tiếp cận trên môi trường số.
Việc thiết kế, xây dựng và triển khai các hệ thống thông tin, nền tảng phải tuân thủ nguyên tắc dùng chung, kết nối, chia sẻ dữ liệu và "API First", bảo đảm phù hợp với khung kiến trúc số của Thành phố.
Các ngành, lĩnh vực kinh tế thuộc phạm vi quản lý phải được thúc đẩy chuyển đổi số một cách toàn diện, thực chất; kết quả chuyển đổi phải được lượng hóa, hạch toán và đánh giá cụ thể.
Các hoạt động, tương tác giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp và giữa các tổ chức, cá nhân phải được thực hiện chủ yếu, tối đa thông qua dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số.
Mọi hoạt động chuyển đổi số phải gắn với việc tạo lập, làm sạch, chuẩn hóa, tích hợp và khai thác dữ liệu; hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung của Thành phố để phục vụ chia sẻ, kết nối và tạo lập các giá trị mới.
Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2026 - 2030
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Kế hoạch số 148/KH-UBND ngày 11/4/2026 về thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 11/02/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030.
Kế hoạch được xây dựng nhằm yêu cầu cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp nâng cao vai trò, trách nhiệm trong chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu về BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được giao năm 2026 và đến năm 2030; xác định phát triển BHXH, BHYT, BHTN là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn liền với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp, xác định rõ nội dung công việc gắn với phân công nhiệm vụ cụ thể và gắn với trách nhiệm của từng sở, ban, ngành, UBND các xã, phường trong việc thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN.
Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, thực hiện BHYT toàn dân, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 100% dân số. Số người tham gia BHXH bắt buộc đạt 60% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động. Số người tham gia BHXH tự nguyện đạt 10% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động. Số người tham gia BHTN đạt 50% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động. Số người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội đạt 65% số người sau độ tuổi nghỉ hưu. Chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người tham gia BHXH đạt trên 90%. Giảm tỷ lệ chậm đóng BHXH, BHYT qua các năm. Kiểm soát chi phí KCB BHYT; phòng chống lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT. Giải quyết, chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ BHXH, BHTN đảm bảo quyền lợi của người tham gia; phòng ngừa gian lận, lạm dụng, trục lợi quỹ BHXH, BHTN.
Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu trên, Thành phố yêu cầu xây dựng, tham mưu giao chỉ tiêu về tỷ lệ bao phủ BHYT, tỷ lệ số người tham gia BHXH bắt buộc so với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động, tỷ lệ số người tham gia BHXH tự nguyện so với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động, tỷ lệ số người tham gia BHTN so với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại các Nghị quyết, Chương trình, Quyết định, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của Thành phố và từng xã, phường.
Phát triển nhanh, bền vững số người tham gia, đảm bảo độ bao phủ BHXH, BHYT, BHTN.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT; đổi mới nội dung, hình thức, phương thức thông tin, tuyên truyền đảm bảo thiết thực, đúng trọng tâm, trọng điểm, đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng; tăng cường tuyên truyền trên các nền tảng số, các công cụ truyền thông mới; vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình.
Tuyên truyền, hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng ứng dụng VssID-Bảo hiểm xã hội số, ứng dụng iHaNoi - Công dân Thủ đô số và nộp hồ sơ BHXH, BHYT qua Cổng dịch vụ công.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về BHXH, BHYT.
Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững quỹ BHYT; sử dụng hiệu quả dự toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT được giao đảm bảo quyền lợi của người tham gia; thực hiện quyết liệt các giải pháp để ngăn chặn tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ bảo hiểm y tế.
Quản lý chặt chẽ việc giải quyết và chi trả các chế độ BHXH, BHTN.
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN.
Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật về BHXH, BHYT theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT, tiến tới BHXH, BHYT toàn dân; xây dựng hệ thống BHXH đa tầng, kết hợp hài hòa các nguyên tắc đóng - hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững.
Bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng đã ký ban hành Kế hoạch số 149/KH-UBND ngày 11/4/2026 về bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội.
Mục tiêu chung của Kế hoạch hướng tới xây dựng không gian mạng Thủ đô an toàn, vững mạnh, có năng lực phòng vệ tốt và khả năng chống chịu cao, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia trên không gian mạng.
Cụ thể, trong năm 2026, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và xã hội Thủ đô. Rà soát, khắc phục 100% các lỗ hổng, điểm yếu an ninh mạng tại các hệ thống thông tin của cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Hoàn thành phê duyệt cấp độ an toàn thông tin và triển khai mô hình "4 lớp" cho toàn bộ hệ thống chính trị Thành phố.
Đảm bảo hạ tầng mật mã quốc gia hoạt động ổn định, phục vụ trao đổi dữ liệu bí mật nhà nước từ Thành phố đến 100% cấp xã, phường. Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân về bảo mật thông tin, an ninh mạng và an ninh dữ liệu; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia an ninh mạng chất lượng cao.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước về an ninh mạng; thực hiện quản trị an ninh mạng dựa trên đánh giá rủi ro, tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Thúc đẩy ứng dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, giám sát thông minh để phát hiện sớm và xử lý kịp thời các mối đe dọa mạng. Chuyển đổi sang mô hình phòng thủ chủ động, các giải pháp mã hóa hiện đại phục vụ bảo vệ dữ liệu quan trọng, dữ liệu bí mật và giao dịch của Nhà nước. Khuyến khích nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ an ninh mạng thế hệ mới, tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, hình thành hệ sinh thái công nghiệp an ninh mạng quốc gia vững mạnh.
Đến năm 2030, đào tạo và xây dựng được đội ngũ chuyên gia an ninh mạng trình độ cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế.
Các Sở, ngành, UBND phường, xã triển khai và áp dụng hiệu quả Khung quản trị rủi ro an ninh mạng quốc gia.
Tỷ trọng sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng "Make in Vietnam" tại các cơ quan Thành phố đạt trên 50%.
Tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học công nghệ số trình độ quốc tế; làm chủ các công nghệ cốt lõi. Phát triển hạ tầng an ninh mạng và hạ tầng số hiện đại; xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghiệp công nghệ cao.
Đồng thời, Thành phố yêu cầu triển khai các nhiệm vụ trọng tâm: Kiện toàn Tiểu ban an ninh mạng Thành phố, xây dựng Kế hoạch hoạt động của Tiểu ban năm 2026 và các năm tiếp theo.
Xây dựng, đưa vào vận hành Trung tâm An ninh mạng Thành phố, đảm bảo hoạt động giám sát và sẵn sàng ứng phó với các nguy cơ tấn công mạng, đồng thời có thể chia sẻ dữ liệu giám sát an ninh mạng quốc gia, hoàn thành trong quý II/2027.
Tổ chức rà soát, đánh giá tổng thể về an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu đối với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin và nguồn nhân lực, hoàn thành trong tháng 6/2026.
Huy động mọi nguồn lực để khắc phục ngay những lỗ hổng bảo mật, nguy cơ mất an ninh mạng trong các hệ thống thông tin, hoàn thành trong tháng 4/2026.
Tổ chức thẩm định, phê duyệt cấp độ đối với toàn bộ các hệ thống thông tin và hạ tầng hiện đang sử dụng, hoàn thành trong tháng 4/2026. Đối với hạ tầng và hệ thống thông tin đang xây dựng hoặc sẽ triển khai trong thời gian tới, yêu cầu bắt buộc phải thực hiện phê duyệt cấp độ an toàn thông tin trước khi đưa vào vận hành chính thức.
Thiết lập kênh kết nối trao đổi thông tin, dữ liệu phục vụ giám sát, điều phối ứng cứu, khắc phục sự cố an toàn thông tin, an ninh mạng theo hướng dẫn của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng Bộ Công an theo quy định, hoàn thành trong tháng 7/2026. Thực hiện báo cáo về sự cố trong vòng 24 giờ nếu xảy ra và tuân theo sự điều phối ứng phó sự cố của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng Công an Thành phố theo quy định, nhiệm vụ thường xuyên.
Phối hợp Bộ Công an sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, xây dựng danh mục bảo vệ bí mật nhà nước để phù hợp với quy định mới của Luật An ninh mạng, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định.
Triển khai mô hình bảo đảm an toàn thông tin "4 lớp" gồm: (1) Lực lượng tại chỗ chịu trách nhiệm vận hành, giám sát và ứng cứu ban đầu khi sự cố xảy ra. (2) Hệ thống hoặc dịch vụ giám sát 24/7, giúp phát hiện sớm các nguy cơ. (3) Đơn vị độc lập thực hiện kiểm tra, đánh giá định kỳ để đảm bảo khách quan và minh bạch. (4) Kết nối, chia sẻ thông tin với hệ thống giám sát an ninh mạng quốc gia, bảo đảm sự phối hợp liên thông trên phạm vi toàn quốc (trừ các hệ thống thông tin trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và cơ yếu), hoàn thành trong quý II/2027.
Triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức an ninh mạng trên nền tảng "Bình dân học vụ số". Đẩy mạnh truyền thông đại chúng và trên mạng xã hội cho người dân kỹ năng nhận diện, phòng, chống lừa đảo, tiếp nhận và xử lý phản ánh sự cố, nhiệm vụ thường xuyên.
Rà soát, xây dựng phương án đơn giản hóa, chuẩn hóa thủ tục hành chính nội bộ trong các cơ quan hành chính
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch số 150/KH-UBND ngày 11/4/2026 về rà soát, xây dựng phương án đơn giản hóa, chuẩn hóa thủ tục hành chính nội bộ trong các cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội năm 2026.
Theo Kế hoạch, Thành phố đề ra các chỉ tiêu cần thực hiện: 100% TTHC nội bộ được công bố, cập nhật, công khai trên Cơ sở dữ liệu thủ tục hành chính quốc gia theo chỉ đạo, hướng dẫn của Cục Kiểm soát TTHC (Bộ Tư pháp).
Tiếp tục công bố, công khai TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Cổng Thông tin điện tử của Thành phố (https://www.hanoi.gov.vn), Trang Thông tin điện tử của Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố và các Trang Thông tin điện tử của các Sở, ban, ngành thuộc Thành phố.
100% TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố, các Sở, ban, ngành; UBND cấp xã được cắt giảm, đơn giản hóa phù hợp với quy định mới của pháp luật về phân cấp, phân quyền và chức năng nhiệm vụ của chính quyền địa phương 02 cấp.
Rà soát, đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC trong các lĩnh vực quản lý, bảo đảm tối thiểu 10% TTHC kiến nghị đơn giản hóa; giảm ít nhất 20% thông tin phải khai báo trên cơ sở tái sử dụng dữ liệu đã được số hóa. Cắt giảm, đơn giản hóa 100% điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết hoặc mâu thuẫn, chồng chéo hoặc quy định chung chung, không cụ thể, không rõ ràng; bãi bỏ 100% điều kiện đầu tư kinh doanh của các ngành, nghề không thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.
Rà soát 100% thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước và trong từng cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, thời gian giải quyết, chi phí thực hiện và sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp với việc tinh gọn, sắp xếp bộ máy, quản trị nội bộ trên môi trường điện tử.
Phấn đấu 100% TTHC nội bộ được công bố và được xây dựng quy trình điện tử hóa, đưa lên Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành tập trung của Thành phố hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính (theo cấp có thẩm quyền quy định) để phục vụ quản trị nội bộ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, thông suốt trong quá trình giải quyết.
Đồng thời, xác định các nội dung chủ yếu: Trình công bố bổ sung TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố; TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của Sở, ban, ngành thuộc Thành phố và UBND cấp xã.
Rà soát, phê duyệt phương án đơn giản hóa TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố, TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của các Sở, ban, ngành thuộc Thành phố; UBND cấp xã.
Thực thi phương án đơn giản hóa TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố, TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của các Sở, ban, ngành thuộc Thành phố, UBND cấp xã.
Thực hiện chuẩn hóa, thống nhất TTHC nội bộ cấp xã. Căn cứ các Quyết định công bố TTHC nội bộ của các Bộ, ngành chủ quản và báo cáo tổng hợp các TTHC nội bộ cấp xã; các Sở, ban, ngành quản lý các lĩnh vực tham mưu, gửi Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố công bố TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố, UBND cấp xã theo lĩnh vực quản lý nhà nước (Đặt mới, đổi tên đường phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh; thành lập Sàn giao dịch công nghệ vùng; thẩm định nhiệm vụ, điều chỉnh quy hoạch chung đô thị và nông thôn; xây dựng chương trình phát triển nhà ở cấp tỉnh; trình tự định giá đất cụ thể đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND Thành phố...)
Cập nhật, công khai các TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố lên Cổng dịch vụ công quốc gia.
Xây dựng quy trình giải quyết và đưa các TTHC nội bộ thuộc phạm vi quản lý của UBND Thành phố (đã được công bố) lên Hệ thống Quản lý văn bản điều hành tập trung của Thành phố hoặc Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành tập trung của Thành phố hoặc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính (theo cấp có thẩm quyền quy định) để quản trị nội bộ.
Ban hành Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau đăng ký thành lập
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Xuân Lưu đã ký ban hành Quyết định số 45/2026/QĐ-UBND ngày 11/4/2026 về ban hành Quy chế phối hợp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau đăng ký thành lập trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Quy chế gồm 5 Chương, 24 Điều, quy định mục tiêu, nguyên tắc, nội dung và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (chủ thể kinh doanh) sau đăng ký thành lập bao gồm: Trao đổi, cung cấp và công khai thông tin về chủ thể kinh doanh và đơn vị trực thuộc. Xây dựng, phê duyệt, tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra; phối hợp xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh; vi phạm quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật. Thu hồi kết quả đăng ký của chủ thể kinh doanh theo quy định pháp luật. Chế độ báo cáo về tình hình thực hiện quản lý nhà nước sau đăng ký thành lập. Quy trình kiểm tra nội dung về đăng ký kinh doanh.
Đối tượng áp dụng gồm: (i) UBND Thành phố; (ii) Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố (cơ quan chuyên môn thuộc Thành phố). (iii) Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội (Ban Quản lý KCN). (iv) UBND xã, phường (UBND cấp xã). (v) Cơ quan quản lý chuyên ngành, lĩnh vực thuộc cơ quan nhà nước ở Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố (cơ quan quản lý chuyên ngành Trung ương). (vi) Chủ thể kinh doanh và đơn vị trực thuộc đăng ký hoạt động.
Mục tiêu phối hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với chủ thể kinh doanh sau đăng ký thành lập; phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật; hạn chế tác động tiêu cực đối với xã hội; góp phần xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi; tạo điều kiện để chủ thể kinh doanh thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Việc phối hợp tuân theo nguyên tắc: (1) Phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước phù hợp chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng cơ quan; quản lý theo ngành, lĩnh vực. Trường hợp kinh doanh đa ngành, nghề thì chịu sự quản lý của nhiều cơ quan; mỗi cơ quan chịu trách nhiệm trong phạm vi ngành, lĩnh vực được giao. (2) Trao đổi, cung cấp, công khai thông tin phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, kịp thời; yêu cầu cung cấp thông tin phải xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước, phù hợp chức năng, nhiệm vụ; việc khai thác, sử dụng thông tin tuân thủ quy định pháp luật. (3) Phối hợp kiểm tra bảo đảm đúng pháp luật; khách quan, công khai, kịp thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung trong cùng thời điểm giữa các cơ quan; mỗi đối tượng không quá một lần kiểm tra theo kế hoạch mỗi năm. Kiểm tra đột xuất chỉ thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng, có căn cứ cụ thể hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Khuyến khích kiểm tra liên ngành, lồng ghép nhiều nội dung trong một đợt kiểm tra để giảm tải cho doanh nghiệp. (4) Phối hợp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; tuân thủ Quy chế này và quy định pháp luật liên quan; không làm phát sinh thủ tục hành chính; không cản trở hoạt động bình thường của chủ thể kinh doanh. (5) Tranh chấp về phân công, phân cấp phối hợp giữa các cơ quan được Sở Tài chính tổng hợp, báo cáo UBND Thành phố xem xét, quyết định.
Nội dung thông tin phối hợp được quy định rõ về trao đổi, cung cấp, công khai thông tin đăng ký; tình trạng pháp lý; tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh; xử lý vi phạm.
Đồng thời, Quyết định cũng quy định trách nhiệm phối hợp: Sở Tài chính phối hợp cơ quan thuộc Bộ Tài chính trong xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thông tin đăng ký; thực hiện số hóa, chuẩn hóa, cập nhật dữ liệu đăng ký doanh nghiệp thuộc thẩm quyền vào cơ sở dữ liệu đăng ký; Tổ chức kiểm tra doanh nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ và Quy chế này; quản lý, vận hành Hệ thống quản lý thông tin doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã của Thành phố; hỗ trợ kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu theo đề nghị. Phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đăng ký doanh nghiệp.
Ban Quản lý KCN thực hiện các nhiệm vụ tương ứng theo thẩm quyền đối với doanh nghiệp/đơn vị trực thuộc trong khu công nghệ cao, khu công nghiệp; phối hợp chia sẻ dữ liệu, tuyên truyền và quản lý rủi ro theo phân công.
UBND cấp xã quản lý đăng ký hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trên địa bàn; tiếp nhận, xử lý thông tin; phối hợp xác minh theo đề nghị trong thời hạn quy định; tuyên truyền, hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; tổ chức kiểm tra theo thẩm quyền; chủ động xây dựng công cụ quản lý rủi ro phù hợp chức năng.
Công an Thành phố phối hợp quản lý ngành nghề có điều kiện về an ninh, trật tự; xác minh, điều tra, xử lý vi phạm theo quy định; phối hợp xác minh nhân thân theo đề nghị trong thời hạn quy định tại Quy chế này.
Kiểm tra thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2026
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Xuân Lưu vừa ký ban hành Quyết định số 1870/QĐ-UBND ngày 13/4/2026 về kiểm tra thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2026 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định, đối tượng kiểm tra là UBND các xã, phường gồm: Vĩnh Hưng, Yên Sở, Tây Tựu, Phú Diễn, Xuân Phương, Bồ Đề, Phúc Lợi, Thường Tín, Chương Dương, Vân Đình, Chương Mỹ, Phú Nghĩa, Yên Bài, Yên Xuân, Quốc Oai, Sơn Đồng, Phúc Thịnh, Vĩnh Thanh, Nội Bài, Kim Anh. Thời gian kiểm tra được thực hiện trong quý II và quý III năm 2026; thời kỳ kiểm tra từ ngày 01/7/2025 đến thời điểm kiểm tra.
Nội dung kiểm tra tập trung vào việc quản lý nhà nước, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Quyết định cũng thành lập Đoàn kiểm tra do Giám đốc Sở Tư pháp làm Trưởng đoàn, với sự tham gia của đại diện các sở, ngành liên quan. Đoàn kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra, thành viên Đoàn kiểm tra thực hiện theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Nghị định 19/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm tra xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trưởng đoàn kiểm tra báo cáo UBND Thành phố kết quả kiểm tra và trình Chủ tịch UBND Thành phố ban hành Kết luận kiểm tra.