VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
Phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số đến năm 2030, định hướng đến năm 2035
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 03/02/2026 về phê duyệt Chiến lược Chuyển đổi số thành phố Hà Nội đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
Theo Quyết định, mục tiêu của chiến lược nhằm xây dựng Chính quyền số thành phố Hà Nội hiện đại, vận hành dựa trên dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo; hình thành Chính quyền thông minh với khả năng quản trị chủ động, dự báo, cung cấp dịch vụ công chất lượng cao, cá thể hóa theo nhu cầu của người sử dụng; bảo đảm hiệu quả, minh bạch và an toàn trên cơ sở năng lực nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo dùng chung của Thủ đô, tuân thủ kiến trúc tổng thể, kết nối - chia sẻ, vận hành thông suốt, toàn trình, phục vụ hiệu quả công tác quy hoạch, quản trị, điều hành và cung ứng dịch vụ công của chính quyền Thành phố, phát triển kinh tế số, xã hội số.
Đến năm 2035, phổ cập hạ tầng kết nối 6G và Internet vạn vật (IoT) trên phạm vi toàn Thành phố. 100% cán bộ, công chức, viên chức làm chủ kỹ năng số, ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành. 100% dân số trưởng thành tiếp cận dịch vụ số trong y tế, giáo dục, bảo hiểm, giao thông, …
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Thành phố xác định các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm gồm: Phối hợp góp ý với các Bộ, ngành Trung ương trong quá trình xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, an ninh dữ liệu và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Xây dựng, phê duyệt Đề án vị trí việc làm (theo quy định của Trung ương) trong đó bổ sung yêu cầu kỹ năng số phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và công cụ làm việc của các vị trí việc làm, trên cơ sở tham chiếu Khung năng lực số quốc gia và các quy định hiện hành.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật của Thành phố đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong tiến trình chuyển đổi số, khuyến khích đổi mới sáng tạo, về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh.
Thực hiện số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Hoàn thành xây dựng, nâng cấp, phát triển các cơ sở dữ liệu chuyên ngành bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công.
Phát triển, hoàn thiện Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Thành phố; Nền tảng tổng hợp, phân tích dữ liệu của Thành phố; Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của Thành phố để đáp ứng yêu cầu tích hợp, chia sẻ dữ liệu số trong giai đoạn mới; Hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của Thành phố; Nền tảng AI của Thành phố theo hướng tích hợp, sử dụng chung và mở rộng năng lực của Nền tảng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo dùng chung (Nền tảng AI) và Nền tảng Trợ lý ảo quốc gia.
Phát triển hạ tầng mạng đáp ứng nhu cầu triển khai chuyển đổi số theo hướng ưu tiên thuê dịch vụ, kết nối và sử dụng hiệu quả Mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước.
Phê duyệt hồ sơ đề xuất bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ đối với toàn bộ hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi số trước khi đưa vào vận hành, sử dụng.
Bố trí nhân lực chuyên trách công nghệ thông tin, chuyển đổi số; triển khai thực chất, hiệu quả phong trào "Bình dân học vụ số" và hoạt động của các Tổ Chuyển đổi số cộng đồng. Tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng hằng năm về kỹ năng số, phương pháp sư phạm và ứng dụng AI trong giảng dạy cho đội ngũ giáo viên các cấp.
Thúc đẩy các ngành kinh tế số mới: Ưu tiên phát triển các mô hình kinh tế số dựa trên công nghệ tiên tiến. Kinh tế vật lý số (Phygital): Ứng dụng công nghệ định danh số (Digital ID) và chuỗi khối (Blockchain) để số hóa các tài sản thực như di sản văn hóa, nông sản OCOP, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Việc tạo ra các "phiên bản số" (Digital Twins) của sản phẩm vật lý giúp gia tăng giá trị, chống giả mạo và mở ra thị trường giao dịch toàn cầu cho văn hóa Việt Nam. Kinh tế bản sao số (Digital Twin Economy): Ứng dụng trong quy hoạch, bất động sản, quản lý cảng biển và logistics thông minh. Công nghệ tài chính (Fintech) thế hệ mới: Sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data).
Tổ chức thực hiện nghiêm công tác bảo vệ bí mật nhà nước năm 2026
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Xuân Lưu vừa ký ban hành Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 02/02/2026 về công tác bảo vệ bí mật nhà nước năm 2026.
Kế hoạch nhằm quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, hiệu quả các quy định của pháp luật về bảo vệ BMNN và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp, các ngành đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; trong đó có Luật Bảo vệ BMNN năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, Chỉ thị số 32/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ BMNN trong tình hình mới.
Nâng cao nhận thức, ý thức, vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương, người đứng đầu, CBCCVC, đảng viên, người lao động về công tác bảo vệ BMNN.
Xác định cụ thể nội dung công tác, phân công trách nhiệm và cơ chế phối hợp các cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương trong triển khai thực hiện công tác bảo vệ BMNN.
Để phát huy những kết quả đạt được và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ BMNN, UBND Thành phố yêu cầu triển khai các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm:
Tổ chức tự rà soát, đánh giá tất cả các nội dung, nhiệm vụ công tác bảo vệ BMNN như: việc ban hành quy định về bảo vệ BMNN theo thẩm quyền; việc trang bị, quản lý, sử dụng hệ thống sổ sách, biểu mẫu, con dấu, trang thiết bị điện tử, tin học phục vụ công tác bảo vệ BMNN; công tác xác định BMNN và độ mật của BMNN; công tác sao, chụp tài liệu, vật chứa BMNN; công tác chuyển giao, vận chuyển tài liệu, vật chứa BMNN; công tác tiếp nhận, thống kê, bảo quản tài liệu, vật chứa BMNN; công tác tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung BMNN; việc bố trí, phân công cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm công tác bảo vệ BMNN.
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu, gắn công tác bảo vệ BMNN với công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện việc rà soát, xác định cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu, cơ mật trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các cơ quan, tổ chức; gắn trách nhiệm bảo vệ BMNN đối với các tổ chức, cá nhân quản lý, soạn thảo, sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, cung cấp, chuyển giao BMNN, thường xuyên quan hệ, tiếp xúc với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Tăng cường tổ chức, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai, quán triệt, tập huấn, hướng dẫn thực hiện các văn bản chỉ đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BMNN. Sử dụng, quản lý, bảo vệ máy tính, thiết bị viễn thông tin học; sử dụng điện thoại thông minh, các phương tiện thu phát tại những nơi diễn ra các hoạt động có tin, tài liệu BMNN, bộ phận trọng yếu cơ mật; nguy cơ lộ, mất BMNN qua hệ thống quản lý điều hành văn bản, trang/cổng thông tin điện tử, báo điện tử, Website,...). Chú ý thường xuyên quán triệt không sử dụng máy tính kết nối mạng Internet để soạn thảo, lưu giữ, gửi văn bản, tài liệu thuộc danh mục BMNN; việc trao đổi thông tin có BMNN qua điện thoại, mạng viễn thông và các thiết bị liên lạc khác phải được bảo mật theo đúng quy định của pháp luật về cơ yếu; quản lý chặt chẽ các thiết bị, phương tiện kỹ thuật có chức năng lưu giữ thông tin.
Chủ động bố trí nguồn lực để đầu tư hệ thống trang thiết bị, công cụ, phương tiện, giải pháp công nghệ mới, xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin; triển khai sản phẩm mật mã và giải pháp cơ yếu để bảo vệ thông tin BMNN. Bố trí, đào tạo, bổ sung đội ngũ nhân lực chất lượng, trình độ cao về công nghệ thông tin, an toàn thông tin, cơ yếu đảm bảo năng lực ứng phó với sự cố an ninh mạng và ngăn chặn nguy cơ lộ, mất BMNN trên không gian mạng.
Phát động, xây dựng, triển khai, tổ chức thực hiện tốt phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Thường xuyên tuyên truyền, hướng dẫn, nhắc nhở đảng viên, CBCCVC, nhân viên lưu ý khi phát hiện BMNN hoặc hành vi xâm phạm BMNN phải khẩn trương khai báo với cơ quan Công an và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ BMNN.
Ứng dụng công nghệ thông tin và vận hành, quản lý mạng nội bộ, mạng Internet, mạng viễn thông công cộng; quản lý, sử dụng điện thoại thông minh, các phương tiện thu phát tại những nơi diễn ra các hoạt động có tin, tài liệu BMNN, bộ phận trọng yếu, cơ mật.
Chủ động thành lập, đề xuất thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra; tăng cường, đẩy mạnh tiến hành công tác rà soát, kiểm tra, giám sát, đa dạng các hình thức kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ BMNN; sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung BMNN khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép...
Tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ và công tác quản lý điều hành giá
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Xuân Lưu đã ký ban hành Công văn số 473/UBND-KT ngày 31/01/2026 về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ và công tác quản lý điều hành giá năm 2026.
Nhằm thực hiện Chỉ thị số 03/CT-BTC của Bộ Tài chính về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, UBND Thành phố chỉ đạo các Sở, ngành Thành phố, UBND các phường, xã cụ thể như sau:
1. Tập trung nghiên cứu, triển khai hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao tại các Văn bản số 167/UBND-KTTH; số 1018/UBND-KT; số 5131/UBND-KT; số 6807/UBND-KT về việc tăng cường thực hiện điều hành bình ổn giá trên địa bàn Thành phố; số 111/UBND-TH của Chủ tịch UBND Thành phố về việc thực hiện Chỉ thị số 36/CT-TTg của Chính phủ về việc tổ chức Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm.
2. Theo dõi sát diễn biến cung cầu giá cả thị trường, nhất là các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, các hàng hóa, dịch vụ có nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, như nhóm các mặt hàng lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ du lịch tham quan, vận chuyển hành khách… và các mặt hàng thiết yếu khác liên quan.
3. Tăng cường công tác quản lý, điều hành, bình ổn thị trường; kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về giá, phí, lệ phí; giám sát việc niêm yết giá, kê khai giá và bán theo giá niêm yết; xử lý nghiêm các hành vi trục lợi, lợi dụng để tăng giá bất hợp lý; chủ động tính toán, dự báo, cập nhật kịch bản điều hành giá, có phương án đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa.
4. Thực hiện nghiêm, triệt để, có hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại; triển khai thực hiện các Chương trình bình ổn giá, phương án điều tiết, lưu thông, hỗ trợ nguồn hàng hợp lý, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
5. Đối với các hàng hóa, dịch vụ nhà nước định giá, tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đặc biệt là dịch vụ giáo dục, y tế… chủ động tính toán, chuẩn bị các phương án, lộ trình điều chỉnh giá, tổ chức thẩm định phương án giá của các đơn vị, kịp thời điều chỉnh theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định mức độ, thời điểm điều chỉnh phù hợp với diễn biến, mặt bằng giá thị trường.
6. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, biện pháp bình ổn giá, bảo đảm cung cầu hàng hóa thiết yếu, vật tư quan trọng. Cung cấp thông tin chính xác, chính thống về tình hình giá cả các mặt hàng trong phạm vi quản lý.
7. Công tác báo cáo giá thị trường: Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tổng hợp, phân tích dự báo giá cả thị trường và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm theo quy định tại Thông tư số 29/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về công tác tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường và kinh phí đảm bảo cho công tác tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường. Thông tư số 44/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư số 29/2024/TT-BTC, các Quyết định số 70/2024/QĐ-UBND của UBND Thành phố về việc ban hành quy định một số nội dung quản lý nhà nước về giá hàng hóa dịch vụ và Quyết định số 63/2025/QĐ-UBND của UBND Thành phố về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 70/2024/QĐ-UBND.
8. Giao Sở Tài chính tiếp tục theo dõi chặt chẽ tình hình giá cả thị trường trên địa bàn Thành phố; chủ trì phối hợp với các Sở, ngành, các cơ quan đơn vị có liên quan theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, phân tích, dự báo giá thị trường.
Phối hợp tuyên truyền phổ biến các quy định của pháp luật về cư trú; điều kiện, thủ tục đăng ký cư trú, khai báo thông tin về cư trú
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Xuân Lưu vừa ký ban hành Công văn số 483/UBND-NC ngày 02/02/2026 về việc phối hợp tuyên truyền phổ biến các quy định của pháp luật về cư trú; điều kiện, thủ tục đăng ký cư trú, khai báo thông tin về cư trú trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo đó, để tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về cư trú của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân; bảo đảm thực hiện đúng quy định, thống nhất, đồng bộ, trên toàn địa bàn Thành phố, UBND Thành phố yêu cầu:
1. Các Sở, ban, ngành, UBND các phường, xã chủ động phối hợp tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về cư trú nói chung; điều kiện, thủ tục đăng ký cư trú, khai báo thông tin về cư trú nói riêng đến toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị nắm, nhận thức và thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về cư trú.
2. UBND các phường, xã chủ động chỉ đạo Tổ chuyển đổi số cộng đồng tăng cường phối hợp với lực lượng Công an cấp xã tổ chức tuyên truyền trực tiếp tại khu dân cư; phát hành tờ rơi, tài liệu hướng dẫn về các điều kiện, thủ tục đăng ký cư trú, khai báo thông tin về cư trú; vận động, hướng dẫn Nhân dân tích cực sử dụng Cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng VNeID trong thực hiện các thủ tục hành chính về cư trú; giải đáp kịp thời thắc mắc của người dân về điều kiện, thủ tục đăng ký cư trú và khai báo thông tin về cư trú.
Thường xuyên cập nhật, niêm yết công khai, minh bạch các thủ tục hành chính về cư trú tại bộ phận "Một cửa" của UBND phường, xã để người dân dễ theo dõi, thực hiện theo quy định. Cụ thể:
(1) Đăng ký thường trú: Người đã đăng ký thường trú mà chuyển đến chỗ ở hợp pháp khác và đủ điều kiện đăng ký thường trú thì có trách nhiệm đăng ký thường trú tại nơi ở mới theo quy định của Luật Cư trú trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đủ điều kiện đăng ký.
(2) Đăng ký tạm trú: Công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú.
(3) Thông báo lưu trú: Khi công dân đến lưu trú tại chỗ ở của cá nhân, hộ gia đình, cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch và các cơ sở khác có chức năng lưu trú dưới 30 ngày...
Khi công dân có đề nghị thực hiện thủ tục đăng ký cư trú có thể truy cập địa chỉ https://dichvucong.dancuquocgia.gov.vn để thực hiện các thủ tục hành chính.
3. Công an Thành phố chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành, UBND các phường, xã trên địa bàn Thành phố tổ chức triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cư trú.
Triển khai công tác tập trung, bảo trợ người lang thang
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà vừa ký ban hành Quyết định số 494/QĐ-UBND ngày 02/02/2026 về thực hiện công tác tập trung người lang thang trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định, các đối tượng được tập trung, bảo trợ gồm: (1) Người có hành vi xin ăn, xin tiền (bao gồm người đi cùng); người dẫn theo trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi để bán hàng rong, đeo bám, chèo kéo người đi đường (bao gồm trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi đi cùng); người cao tuổi, trẻ em đi lạc gia đình; người lang thang vô gia cư; người lang thang sinh sống nơi công cộng trong dịp Tết Nguyên đán hoặc thời tiết rét đậm dưới 100C được đưa đến các cơ sở trợ giúp xã hội của Thành phố để chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời chờ đưa về nơi cư trú; hoặc nuôi dưỡng đối với người chưa xác định được nơi cư trú. (2) Người tâm thần lang thang; người lang thang ốm yếu, sức khỏe suy kiệt được đưa đến các cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố để điều trị ổn định.
Quyết định quy định rõ quy trình kiểm tra, tập trung, tiếp nhận và giải quyết người lang thang, trong đó: (1) UBND các xã, phường kiểm tra, phát hiện người lang thang trên địa bàn quản lý: Đối với người tâm thần lang thang và người lang thang ốm yếu, sức khỏe suy kiệt (khoản b Điều 1 của Quyết định): UBND các xã, phường liên hệ với Trung tâm cấp cứu 115 để vận chuyển đến cơ sở y tế có điều trị nội trú hoặc liên hệ với các cơ sở y tế để tiếp nhận điều trị. Trường hợp vì lý do bất khả kháng, Trung tâm cấp cứu 115, cơ sở y tế, cơ sở trợ giúp xã hội không bố trí được phương tiện đến tiếp nhận đối tượng, UBND các xã, phường được phép sử dụng kinh phí của địa phương để thuê phương tiện đưa đối tượng đến các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở y tế công lập.
Đối với các trường hợp người lang thang khác (khoản a Điều 1 Quyết định): UBND xã, phường đưa người lang thang đến địa điểm lưu trú tạm thời. Lập biên bản, phối hợp với Công an, các đơn vị có liên quan xác minh thông tin, nơi cư trú để hỗ trợ bàn giao cho gia đình, địa phương. Trường hợp không xác minh được thông tin, nơi cư trú thì thông báo và bàn giao đối tượng cho cơ sở trợ giúp xã hội theo địa bàn quản lý.
(2) Trung tâm cấp cứu 115 và các cơ sở y tế tiếp nhận người tâm thần lang thang, người lang thang ốm yếu, sức khỏe suy kiệt (khoản b Điều 1 Quyết định): Khi nhận được thông báo, Trung tâm cấp cứu 115 và các cơ sở y tế có trách nhiệm tiếp nhận, đưa đối tượng đến cơ sở y tế để khám, điều trị và đồng thời các cơ sở y tế phối hợp với Công an, các xã, phường xác minh thông tin, nơi cư trú của đối tượng.
Sau khi điều trị bệnh ổn định đối tượng được phân loại như sau: Đối tượng có địa chỉ nơi cư trú, cơ sở y tế thông báo cho gia đình, địa phương phối hợp bàn giao, tiếp nhận và đón đối tượng về địa phương.
Đối tượng không xác định được địa chỉ nơi cư trú: Cơ sở y tế lập hồ sơ có văn bản gửi Sở Y tế đề nghị chỉ đạo cơ sở trợ giúp xã hội công lập tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tạm thời trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú.
(3) Đối với các trường hợp lang thang là người nước ngoài: Công an Thành phố chủ trì giải quyết, hướng dẫn triển khai thực hiện trên cơ sở căn cứ Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, quy chế của UBND Thành phố và các quy định hiện hành.