Quang cảnh kỳ họp
Nghị quyết quy định về việc xác định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo khoản 2 Điều 8 của Luật Thủ đô; quy định chi tiết khoản 3 Điều 8 và khoản 6 Điều 9 của Luật Thủ đô; đồng thời quy định trình tự, thủ tục ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật để quyết định lựa chọn áp dụng pháp luật theo khoản 3 Điều 5 của Luật Thủ đô.
Đối tượng áp dụng gồm các cơ quan chủ trì xây dựng chính sách, soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu trình bày tờ trình tại Kỳ họp
Nghị quyết nhấn mạnh nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, Luật Thủ đô và quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, việc xây dựng văn bản phải bảo đảm quốc phòng, an ninh; kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng chống lợi ích nhóm, cục bộ; phát huy sự tham gia của các đối tượng chịu tác động trực tiếp và các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình xây dựng văn bản.
Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị quyết quy định HĐND Thành phố được ban hành văn bản để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đang được quy định trong văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thuộc Thành phố. HĐND Thành phố cũng được quy định các biện pháp đặc thù phù hợp với yêu cầu phát triển Thủ đô để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội trong trường hợp khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ.
UBND Thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đang được quy định trong văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND, Chủ tịch UBND các cấp và các cơ quan thuộc phạm vi quản lý của Thành phố.
Đáng chú ý, Nghị quyết quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình tham vấn, lấy ý kiến, truyền thông, đăng tải, thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tổ chức tham vấn ý kiến của Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản.
Đối với các dự thảo văn bản có nội dung khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc chưa có quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan soạn thảo phải tham vấn ý kiến của các bộ, ngành Trung ương, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và UBND các tỉnh trong vùng Thủ đô có liên quan.
Nghị quyết cũng dành một chương riêng quy định về xây dựng nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách theo Điều 9 của Luật Thủ đô. Theo đó, việc xây dựng nghị quyết thí điểm phải bảo đảm xác định rõ sự cần thiết của cơ chế, chính sách mới; bảo đảm nguồn lực thực hiện; có cơ chế theo dõi, kiểm soát, quản trị rủi ro; xác định rõ tiêu chí đánh giá hiệu quả và điều kiện để triển khai chính thức hoặc kết thúc thí điểm.
Trưởng Ban Pháp chế HĐND Thành phố Duy Hoàng Dương trình bày báo cáo thẩm tra tại Kỳ họp
Hồ sơ đề xuất thí điểm cơ chế, chính sách phải bao gồm báo cáo tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động chính sách, rà soát các chủ trương của Đảng, pháp luật hiện hành và điều ước quốc tế có liên quan. Cơ quan chủ trì đề xuất phải tổ chức khảo sát thực tiễn, lấy ý kiến các sở, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương liên quan và đối tượng chịu tác động trực tiếp trước khi trình UBND Thành phố xem xét.
Nghị quyết cũng quy định việc thẩm định nghị quyết thí điểm được thực hiện thông qua hội đồng thẩm định hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Thành phần hội đồng thẩm định gồm đại diện các sở, ngành, cơ quan Trung ương, chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực liên quan nhằm bảo đảm tính khách quan, toàn diện và khả thi của chính sách thí điểm.
Bên cạnh đó, Nghị quyết quy định cụ thể trình tự, thủ tục xây dựng nghị quyết lựa chọn áp dụng pháp luật theo khoản 3 Điều 5 của Luật Thủ đô. Nội dung văn bản đăng ký xây dựng nghị quyết phải làm rõ sự cần thiết, tính hợp lý, khả thi, tính đồng bộ với hệ thống pháp luật của Thành phố cũng như lợi ích, hiệu quả của việc lựa chọn áp dụng pháp luật theo hướng ưu đãi, thuận lợi hơn.
Theo Nghị quyết, UBND thành phố Hà Nội có trách nhiệm tổ chức thi hành; thực hiện trách nhiệm giải trình trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Thành phố để tổ chức thi hành Luật Thủ đô. Thường trực HĐND Thành phố, các Ban của HĐND Thành phố, các Tổ đại biểu, đại biểu HĐND Thành phố và Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp thành phố Hà Nội có trách nhiệm giám sát việc thực hiện Nghị quyết.