Quy chế này quy định nguyên tắc, nội dung, phương thức, đầu mối, chế độ thông tin, thời hạn phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Các nội dung chưa được quy định tại Quy chế này được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành và Quy chế làm việc của UBND Thành phố.
Đối tượng áp dụng gồm: Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội; Các sở, ban, ngành thuộc Thành phố; UBND các xã, phường; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội và các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong quá trình phối hợp thực hiện công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
Nguyên tắc phối hợp được quy định: Bảo đảm tuân thủ chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị; không chồng chéo, không làm thay trách nhiệm của cơ quan chủ trì hoặc cơ quan phối hợp. Bảo đảm chủ động, kịp thời, chặt chẽ, hiệu quả, thống nhất trong tham mưu và tổ chức thực hiện; gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong từng nội dung phối hợp. Bảo đảm công khai, minh bạch, đúng trình tự, thủ tục; đồng thời thực hiện nghiêm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, lưu trữ hồ sơ, quản lý thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động công vụ. Đối với vụ việc phức tạp, nhạy cảm, nổi cộm hoặc vượt thẩm quyền, cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ động trao đổi với các cơ quan liên quan để thống nhất phương án xử lý; trường hợp còn có ý kiến khác nhau thì tổng hợp, báo cáo UBND Thành phố xem xét, quyết định.
Nội dung phối hợp gồm: (1) Xây dựng, góp ý, thẩm định, tổ chức thực hiện văn bản, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án liên quan đến lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. (2) Quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số và các tôn giáo trên địa bàn Thành phố. (3) Phối hợp giải quyết thủ tục hành chính; xử lý các vụ việc phát sinh, vụ việc phức tạp, nhạy cảm liên quan đến dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. (4) Phối hợp trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, di sản văn hóa, lễ hội, môi trường, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự, chuyển đổi số, tài chính và các lĩnh vực khác có liên quan. (5) Phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiểm tra, thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. (6) Phối hợp xây dựng, cập nhật, chia sẻ cơ sở dữ liệu; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, sơ kết, tổng kết và đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Đồng thời, phối hợp được thực hiện thông qua các phương thức: gửi văn bản, trao đổi qua hệ thống quản lý văn bản và điều hành, thư điện tử công vụ, tổ chức họp, hội nghị, làm việc trực tiếp, thành lập tổ công tác hoặc đoàn liên ngành và các hình thức phù hợp khác theo quy định của pháp luật.
Đối với nội dung khẩn cấp, cơ quan chủ trì được trao đổi bằng điện thoại hoặc hình thức điện tử phù hợp để kịp thời xử lý, sau đó phải hoàn thiện hồ sơ, tài liệu hoặc xác nhận kết quả xử lý bằng văn bản hoặc trên hệ thống quản lý văn bản điện tử theo quy định.
Sở Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan đầu mối giúp UBND Thành phố theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện Quy chế này.
Các sở, ban, ngành, UBND cấp xã và cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm phân công đầu mối chuyên môn để tiếp nhận, xử lý, phản hồi các nội dung phối hợp, thông báo bằng văn bản hoặc thư điện tử công vụ cho Sở Dân tộc và Tôn giáo khi có thay đổi đầu mối.
Về chế độ thông tin, báo cáo và thời hạn phối hợp: Cơ quan được đề nghị phối hợp có trách nhiệm trả lời bằng văn bản hoặc trên Hệ thống quản lý văn bản điện tử theo thời hạn do cơ quan chủ trì yêu cầu, trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì thực hiện theo quy định đó.
Trường hợp chưa thể trả lời đúng thời hạn, cơ quan phối hợp phải có thông tin phản hồi bằng văn bản, nêu rõ lý do và thời điểm dự kiến hoàn thành, không để kéo dài, gây ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc chung.