Tết nhảy của người Dao ở Ba Vì
Phong tục tập quán của người Dao ở Ba Vì có những nét chung, song cũng có những nét khá đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc riêng biệt, được phản ánh qua các công trình kiến trúc, nhà ở, trang phục, âm nhạc, ẩm thực… đặc biệt là tục làm Đại chay hay còn gọi là Tết nhảy của người Dao. Tết nhảy được tổ chức từ rằm tháng Chạp trở đi, thường làm ở “Nhà cái” (con trưởng, trưởng họ) với khoảng thời gian vài năm một lần, nhưng không được lâu quá 12 năm, vì như thế là vong ân bội nghĩa với tổ tiên, trời đất. Gia đình nào làm Tết nhảy được cả bản chung tay sắm sửa: Đàn bà nấu nướng làm cỗ, đàn ông chuẩn bị đao, kiếm bằng gỗ quý cùng nhiều loại vũ khí tượng trưng khác, sau khi đẽo xong thì tô mực màu xanh, đỏ và trang trí hoa văn lên. Thanh niên luyện múa hàng tháng trời.
Người Dao đặc biệt quan tâm đến việc lập bàn thờ. Khác với người Mường, người Kinh, bàn thờ của người Dao không đặt ở gian giữa mà đặt ở góc nhà, với quan niệm là nơi thâm nghiêm, yên tĩnh và linh liêng nhất. Việc lập bàn thờ cũng rất công phu, đặc biệt là tranh thờ. Có nhà phải tích cóp 5 đến 10 năm mới hoàn chỉnh xong các bộ tranh thờ. Sau khi sắm sửa đầy đủ các nghi lễ, họ phải làm thêm lễ tạ thì nhà nào có bàn thờ lớn mới thành nhà Tổ. Khi có nhà Tổ và đủ các bộ tranh thần mới được làm lễ Tết nhảy. Trong 03 ngày diễn ra lễ Tết nhảy không thể thiếu 6 bài Múa rùa rất nổi tiếng và được lưu truyền đến nay.
Theo lời kể của già làng Triệu Văn Cao, Múa rùa nằm trong phần hội không thể thiếu của Tết nhảy. Sự tích truyền rằng: Xưa kia mọi người đang yên vui hưởng cuộc sống thanh bình, mùa màng tươi tốt, lợn đầy nhà, gà đầy sân... bỗng xuất hiện một con rùa yêu quái đến quấy nhiễu bản làng, làm mùa màng thất bát, reo rắc bệnh tật cho con người, làm đảo lộn cuộc sống yên vui thanh bình của bà con trong bản. Vì thế, người dân phải kêu cứu đến Bàn Vương (Tổ của người Dao). Bàn Vương báo mộng cho dân làng trong bản biết tất cả đều do con rùa yêu quái gây ra, phải tìm cách bắt, giết rùa dâng cúng tổ tiên mới có thể yên ổn được. Từ đó trở đi, trò Múa rùa chính thức ra đời nhằm diễn tả động tác bắt, trói và khiêng rùa về nhà để dâng cúng Bàn Vương và các vị thánh tổ tiên người Dao.
Hiện nay, Tết nhảy là một phần không thể thiếu đối với người Dao. Đây là tết "cầu may", tết "cầu phúc", là dịp để "tẩy oan", để con người trong thôn bản đoàn kết, xích lại gần nhau. Đặc biệt, đây cũng là dịp đế họ cầu Bàn Vương phù hộ cho người chết được siêu tịnh, người già được an khang, mọi người đều được mạnh khỏe, làm ăn may mắn và phúc đức về sau. Gia đình nào được chọn tổ chức làm lễ Tết nhảy hằng năm phải hội đủ các điều kiện theo quy định và được sự đồng ý của già làng cùng với mọi người trong bản. Tết nhảy diễn ra trong thời gian 03 ngày, 03 đêm liên tục và trong thời gian đó có 6 lần Múa rùa (mỗi ngày có hai tiết mục múa khác nhau).
Những người được chọn tham gia Múa rùa phải là những trai tráng khoẻ mạnh trong gia đình, họ hàng hoặc trong bản, vừa có khả năng múa, vừa có khả năng diễn xướng, sử dụng dàn nhạc theo từng điệu nhảy. Đạo cụ sử dụng trong điệu múa này là các nhạc cụ gắn với động tác múa chuông, trống con, thổi kèn, thanh la, nhạc ngựa, mõ nhỏ, não bạt... Trang phục trong điệu Múa rùa đặc trưng có áo long bào, mũ tế của thầy chủ trì, áo Dao (không mũ) của thầy âm. Thanh niên tham gia múa đều mặc trang phục người Dao, tay cầm đạo cụ.
Trong màn Múa rùa, để chạy rùa, người ta dùng 12 con dao bằng gỗ được đẽo gọt cẩn thận có sơn màu, cắm dọc nền nhà hình chữ "Chi"; người chạy rùa chạy theo khe những con dao cắm so le hình chữ "Chi". Trong 3 ngày diễn ra lễ Tết nhảy, ngày thứ nhất múa 2 bài (bài của thầy âm trước, sau đó đến một bài của thầy chủ trì với 5 nam thanh niên múa phụ họa theo); ngày thứ hai cũng diễn ra như vậy, chỉ khác là nội dung của hai bài và số nam thanh niên tham gia múa tăng lên là 7; ngày thứ ba cũng tương tự như vậy và số nam thanh niên tham gia múa tăng lên là 9 (tùy từng buổi lễ khi chọn múa, có thể số nam thanh niên tăng lên, nhưng phải là số lẻ theo qui định 5, 7, 9 hoặc 7, 9, 11).
Trong suốt thời gian Múa rùa, thầy âm đều nhắm mắt lại để thể hiện những người đã khuất nay trở về chứng kiến con cháu đang làm những điều đầy ý nghĩa và cao cả. Các nam thanh niên tham gia múa thì tay dạo nhạc cụ, miệng luôn đồng thanh hát theo vần và nội dung trong cuốn sách của người Dao, dáng điệu theo 9 giai điệu rất cụ thể: trước bàn thờ cúng Bàn Vương, thầy âm và thầy chủ trì đều múa thể hiện những động tác phức tạp đi trước, tiếp theo là các thành viên theo tiếng trống, chiêng dàn trận thể hiện các động tác tìm, săn, đào xung quanh khu vực trước đèn cúng lễ. Đoàn người vừa đi vừa diễn tả động tác bắt, trói và khiêng rùa về nhà để dâng cúng Bàn Vương và các vị Thánh tổ tiên người Dao. Cùng với đó là tiếng trống, thanh la, não bạt, tiếng hú, tiếng hò reo vang trời dậy đất, tạo ra không khí vui tươi, tưng bừng, huyền bí vang động khắp núi rừng.
Thời gian kết thúc bài Múa rùa của thầy âm không quá 3 giờ đồng hồ, còn thời gian kết thúc bài Múa rùa của thầy chủ trì cũng không quá 2 giờ đồng hồ. Sau khi kết thúc các giai điệu Múa rùa bằng những động tác cách điệu, họ tiếp tục hát về "Thánh sư" nhằm mục đích phù hộ cho con cháu của cả hai thầy (thầy âm và thầy chủ trì) được khỏe mạnh, thông minh, làm ăn mưa thuận gió hòa... Kết thúc bài Múa rùa là động tác ăn thịt rùa một cách hả hê, hân hoan và tin tưởng rằng từ nay con cháu, họ hàng sẽ gặp nhiều thuận lợi, may mắn như lời cầu nguyện của Bàn Vương. Khi màn đêm của ngày thứ 3 buông xuống cũng là lúc thầy cúng ra ngoài thổi tù và gọi trời đất công nhận cho gia đình, cho nhà đã làm xong lễ Tết nhảy, cầu Ngọc Hoàng ban phước lành cho gia đình, con cháu, người thân; sau đó hát ba đoạn còn lại cuối bài cầu mong các đấng thần linh phù hộ, ban phước lành cho mọi người đều mạnh khỏe, ngoan hiền, lao động bội thu, chăn nuôi phát triển...
Không khí lễ Tết nhảy với điệu Múa rùa của dân tộc người Dao với những nét riêng đã trở thành nếp sống đầy ý nghĩa và ăn sâu vào tiềm thức những người con dân tộc Dao. Đó cũng chính là cách ứng xử giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, con người với thần linh, đồng thời cũng thể hiện mơ ước, khát vọng tự ngàn xưa của người dân tộc Dao trên mảnh đất quê hương Ba Vì.