VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
Phát triển công nghiệp bán dẫn của thành phố Hà Nội đến năm 2030
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch số 212/KH-UBND ngày 02/6/2026 về phát triển công nghiệp bán dẫn của thành phố Hà Nội đến năm 2030.
Mục tiêu chung của Kế hoạch nhằm triển khai hiệu quả "Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2050" và Chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050". Đến năm 2030, Thủ đô Hà Nội dẫn đầu khu vực phía Bắc về phát triển công nghiệp bán dẫn, trở thành trung tâm nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn hàng đầu của Việt Nam và các nước trong khu vực, đồng thời đi đầu trong thử nghiệm các mô hình đào tạo, hợp tác công - tư, liên kết viện - trường - doanh nghiệp và khai thác hạ tầng dùng chung theo kinh nghiệm quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Phát triển đội ngũ nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn có chất lượng, tập trung vào công đoạn thiết kế chip bán dẫn, đóng gói và kiểm thử chip bán dẫn; từng bước nắm bắt công nghệ trong công đoạn sản xuất bán dẫn; trong đó đào tạo được ít nhất 22.000 nhân lực có trình độ từ đại học trở lên phục vụ cho ngành công nghiệp bán dẫn, cụ thể:
Hình thành ít nhất 01 Trường Đại học Công nghệ quốc tế tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, ưu tiên lĩnh vực vi điện tử và vi mạch bán dẫn, gắn đào tạo với nghiên cứu, thực hành và kết nối doanh nghiệp; Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc về dữ liệu và bán dẫn; Trung tâm đào tạo kỹ thuật viên bán dẫn tại Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội; xây dựng Chương trình đào tạo lực lượng lao động ngành bán dẫn từ bậc phổ thông phục vụ nhu cầu phát triển ngành công nghiệp bán dẫn.
Thu hút đầu tư mới ít nhất 20 doanh nghiệp thiết kế chip; làm chủ công nghệ thiết kế một số chip chuyên dụng sử dụng trong sản phẩm phần cứng, điện tử thuộc các nhóm: điện tử nghe nhìn, điện tử gia dụng, điện tử chuyên dùng, thông tin viễn thông; 02 dự án đầu tư về đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn với công nghệ tiên tiến; thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành bán dẫn, từng bước xây dựng hệ sinh thái cung ứng nội địa cho phát triển ngành công nghiệp bán dẫn; đầu tư, phát triển Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đáp ứng đủ điều kiện thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư các dự án thiết kế, đóng gói, kiểm thử sản phẩm bán dẫn với công nghệ tiên tiến; hướng tới trở thành hạt nhân của hệ sinh thái bán dẫn Việt Nam; tổ chức ít nhất 01 sự kiện xúc tiến đầu tư và hợp tác quốc tế về công nghiệp bán dẫn.
Để thực hiện các mục tiêu này, Thành phố sẽ đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục đầu tư; nghiên cứu, đề xuất triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính bao gồm học bổng, miễn, giảm học phí và hỗ trợ ưu đãi khác đối với học sinh, sinh viên theo học các ngành, chuyên ngành liên quan đến công nghiệp bán dẫn. Tăng cường triển khai các chính sách về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, thiết kế, giải pháp công nghệ trong lĩnh vực bán dẫn theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Hình thành ít nhất 01 Trường Đại học Công nghệ quốc tế tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, ưu tiên lĩnh vực vi điện tử và công nghiệp bán dẫn; hình thành Trung tâm đào tạo kỹ thuật viên bán dẫn tại Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội; Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp bán dẫn.
Kết nối, điều phối các nguồn lực nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm, sàn giao dịch và các tổ chức trung gian; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu của Thủ đô.
Thực hiện Đề án "Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025-2030, định hướng đến năm 2035"; đầu tư xây dựng các trường cao đẳng nghề chất lượng cao, xây dựng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội trở thành trung tâm quốc gia đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao, một số trường Đại học, Cao đẳng khác của Thành phố thực hiện chức năng trung tâm vùng về đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao.
Đưa vào hoạt động một số khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung mới và thu hút đầu tư vào lĩnh vực thiết kế chip bán dẫn, nghiên cứu và phát triển thiết bị điện tử với trọng tâm là các thiết bị điện tử thế hệ mới tích hợp các chip chuyên dụng, chip AI.
Chia sẻ, dùng chung một số cơ sở hạ tầng phòng thí nghiệm và trung tâm R&D; triển khai xây dựng phòng thí nghiệm bán dẫn dùng chung cấp quốc gia và phòng thí nghiệm bán dẫn cấp cơ sở theo Chương trình "Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050".
Khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ số mở rộng sang đầu tư, sản xuất thiết bị điện tử thế hệ mới; sử dụng các sản phẩm chip bán dẫn được thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử tại Việt Nam.
Thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm huy động nguồn lực cho phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, điện tử. Đẩy mạnh hợp tác với một số trường Đại học hàng đầu về bán dẫn của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan, … với các trường đại học, cao đẳng.
Thực hiện Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Thu Hà đã ký ban hành Kế hoạch số 211/KH-UBND ngày 01/6/2026 về thực hiện Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2026.
Kế hoạch được triển khai trong tháng 10/2026 với chủ đề "Cộng đồng chung tay chăm sóc tích hợp Người cao tuổi trong xu thế già hóa dân số" nhằm phát huy truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", lòng hiếu thảo của con cháu và tinh thần kính lão, trọng thọ của dân tộc Việt Nam. Nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong việc thực hiện Luật Người cao tuổi, Luật Dân số và các chính sách bảo vệ, chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi, thích ứng với xu thế già hóa dân số. Tăng cường sự quan tâm, tham gia của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong công tác chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò của người cao tuổi trong xã hội. Huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội nhằm hỗ trợ người cao tuổi nghèo, người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
Theo đó, Thành phố sẽ tổ chức các hoạt động tuyên truyền trên báo chí, hệ thống phát thanh, truyền hình và Cổng thông tin điện tử của Thành phố về ý nghĩa, mục đích của "Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam". Các chủ trương, chính sách, chiến lược Quốc gia về người cao tuổi của Đảng, Nhà nước về công tác người cao tuổi. Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến người cao tuổi và các chính sách thích ứng với già hóa dân số, góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người cao tuổi trên địa bàn. Thực hiện lập hồ sơ, quản lý và theo dõi tình trạng sức khỏe người cao tuổi tại tuyến y tế cơ sở theo quy định. Tổ chức các đợt cao điểm thăm hỏi, động viên, tặng quà người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa. Phối hợp triển khai hiệu quả chương trình "Mắt sáng cho người cao tuổi", hỗ trợ khám, điều trị và phẫu thuật thay thủy tinh thể cho người cao tuổi thuộc diện khó khăn. Thí điểm và nhân rộng mô hình chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi tại xã, phường; tăng cường quản lý sức khỏe, theo dõi bệnh không lây nhiễm và hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng. Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý, theo dõi sức khỏe người cao tuổi; nghiên cứu thí điểm các giải pháp chăm sóc sức khỏe thông minh như sử dụng vòng tay thông minh để theo dõi sức khỏe người cao tuổi. Tăng cường phục hồi chức năng, can thiệp sớm và trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người yếu thế dựa vào gia đình và cộng đồng, có sự hỗ trợ chuyên môn của hệ thống y tế cơ sở. Nghiên cứu, xây dựng các đề tài khoa học phục vụ phát hiện sớm, quản lý và chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người dân và người cao tuổi trong cộng đồng.
Đẩy mạnh nhân rộng mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc hỗ trợ, chăm sóc và chia sẻ giữa các thế hệ, qua đó nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và tăng cường gắn kết xã hội. Khuyến khích phát triển đa dạng các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng, trong đó chú trọng mô hình chăm sóc bán trú, chăm sóc ban ngày và các hình thức chăm sóc phù hợp khác, đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng đa dạng của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số. Nghiên cứu xây dựng mô hình điểm Tổ hợp Trung tâm Chăm sóc Người cao tuổi Hà Nội theo hướng đồng bộ, hiện đại, kết hợp chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi. Từng bước chuẩn hóa mô hình Tổ hợp Trung tâm Chăm sóc - Phục hồi chức năng cho người tâm thần, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc đối tượng yếu thế và người cao tuổi có nhu cầu chăm sóc đặc biệt. Khuyến khích phát triển các mô hình chăm sóc người cao tuổi chất lượng cao gắn với dịch vụ nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe và du lịch y tế phù hợp với nhu cầu của người dân trong bối cảnh già hóa dân số.
Đẩy mạnh công tác vận động, kêu gọi sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài địa bàn Thành phố nhằm hỗ trợ người cao tuổi về vật chất, chăm sóc y tế và đời sống tinh thần. Thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động chăm sóc người cao tuổi, đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, góp phần nâng cao chất lượng công tác an sinh xã hội đối với người cao tuổi. Huy động nguồn lực xã hội tham gia đầu tư, hỗ trợ triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng, mô hình chăm sóc ban ngày, phục hồi chức năng và các mô hình chăm sóc chất lượng cao. Tăng cường vận động các tổ chức, doanh nghiệp đồng hành trong việc hỗ trợ khám chữa bệnh, tạo việc làm, hỗ trợ sinh kế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người cao tuổi.
Tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, bảo vệ môi trường, xây dựng đô thị văn minh và nông thôn mới; hỗ trợ người cao tuổi tiếp cận các dịch vụ số phục vụ đời sống và chăm sóc sức khỏe. Phát huy vai trò người cao tuổi trong xây dựng gia đình văn hóa, gia đình "Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền"; giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Khuyến khích, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, hệ thống chính trị cơ sở; tham gia hòa giải, giữ gìn an ninh trật tự và giám sát cộng đồng. Triển khai các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm phù hợp với sức khỏe, kinh nghiệm và nhu cầu của người cao tuổi; tổ chức các hoạt động kết nối việc làm, khởi nghiệp và hỗ trợ sinh kế cho người cao tuổi.
Thực hiện Chương trình phòng, chống mại dâm trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đỗ Anh Tuấn vừa ký ban hành Kế hoạch số 213/KH-UBND ngày 02/6/2026 về thực hiện Chương trình phòng, chống mại dâm trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030.
Theo Kế hoạch, lấy phòng ngừa làm trọng tâm; gắn công tác phòng, chống mại dâm với thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe, việc làm, giảm nghèo, bình đẳng giới và phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách; tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, bảo đảm công tác phòng, chống mại dâm được triển khai thống nhất, đồng bộ. Đẩy mạnh công tác truyền thông, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và phòng ngừa xã hội; chú trọng phát huy vai trò của cộng đồng, tập trung vào các địa bàn, nhóm đối tượng có nguy cơ cao.
Phấn đấu đến năm 2030: 95% số cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm được rà soát, phân loại, đưa vào diện quản lý được kiểm tra ít nhất một lần. (Năm 2026: 60%; Năm 2027: 70%; Năm 2028: 80%; Năm 2029: 90%; Năm 2030: 95%) - 80% đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống mại dâm cấp Thành phố và 60% đội ngũ này tại xã, phường được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ về công tác phòng, chống mại dâm.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Thành phố sẽ tăng cường chỉ đạo toàn diện của cấp ủy đảng, sự quản lý thống nhất của chính quyền hai cấp trong công tác phòng, chống mại dâm; các cấp ủy đảng lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch vào nghị quyết, kế hoạch về phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và giai đoạn của ngành, địa phương.
Đa dạng hóa phương thức, đổi mới nội dung truyền thông, tăng cường kết hợp giữa truyền thông trực tiếp với truyền thông gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông số; tập trung giáo dục lối sống lành mạnh, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục; nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống mại dâm, bình đẳng giới, ảnh hưởng tiêu cực của mại dâm đối với cá nhân, gia đình và xã hội; tuyên truyền lồng ghép nội dung phòng, chống mại dâm, với phòng, chống ma túy, phòng, chống HIV/AIDS và phòng, chống mua bán người.
Ứng dụng công nghệ thông tin, nền tảng số trong truyền thông và tư vấn; xây dựng, cung cấp tài liệu, dữ liệu, hình ảnh, video, ấn phẩm truyền thông; phát triển các công cụ truyền thông số, ứng dụng di động để phổ biến kiến thức, hướng dẫn kỹ năng phòng ngừa, cảnh báo nguy cơ, phản ánh vi phạm.
Lồng ghép công tác phòng, chống mại dâm với các chương trình, đề án liên quan như bình đẳng giới, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, an sinh xã hội và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác; chú trọng các giải pháp hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm bền vững cho phụ nữ, thanh niên, người lao động di cư, người có hoàn cảnh khó khăn.
Nâng cao năng lực các cơ sở y tế, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm trong việc tham gia cung cấp dịch vụ hỗ trợ can thiệp giảm hại và hòa nhập cộng đồng đối với người bán dâm; phát triển các điểm tư vấn, hỗ trợ tại cộng đồng theo hướng dễ tiếp cận, an toàn, bảo mật.
Thực hiện các hình thức hỗ trợ như tư vấn trực tuyến, đường dây nóng, tư vấn lưu động; ưu tiên phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, tăng cường trao quyền và phát huy vai trò của các nhóm đồng đẳng, nhóm tự lực trong truyền thông, tiếp cận, hỗ trợ, giám sát và duy trì kết quả can thiệp.
Đẩy mạnh quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm qua việc xây dựng hồ sơ cơ bản các cơ sở kinh doanh dịch vụ, số lượng người lao động tại các cơ sở di biến động của các đường dây, ổ nhóm, đối tượng nghi có liên quan đến hoạt động mại dâm; tăng cường kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn mại dâm.
Tranh thủ sự tài trợ về tài chính, giúp đỡ về chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ huy động được của các tổ chức quốc tế trong công tác phòng, chống mại dâm; phối hợp chặt chẽ với các nước trong khu vực và quốc tế, các tỉnh, thành phố trong nước trong việc trao đổi thông tin, điều tra, xử lý tội phạm; tổ chức học tập tham gia chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực về phòng, chống mại dâm với các tỉnh, thành phố khác về công tác phòng, chống mại dâm.
Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong theo dõi, phân tích và dự báo tình hình mại dâm; xây dựng các công cụ số để ứng dụng trong công tác phòng, chống mại dâm theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Ban hành Quy chế phối hợp trong công tác quản lý cư trú, hoạt động của người nước ngoài và quản lý hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Đỗ Anh Tuấn vừa ký ban hành Quyết định số 63/2026/QĐ-UBND ngày 02/6/2026 về việc ban hành Quy chế phối hợp trong công tác quản lý cư trú, hoạt động của người nước ngoài và quản lý hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Quy chế này gồm 3 Chương, 13 Điều quy định mục tiêu, nguyên tắc, hình thức, nội dung, trách nhiệm phối hợp giữa các sở, ban, ngành, UBND các xã, phường của Thành phố Hà Nội (Thành phố) trong công tác quản lý cư trú, hoạt động của người nước ngoài và quản lý hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài trên địa bàn Thành phố.
Mục tiêu phối hợp nhằm tạo điều kiện cho người nước ngoài, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, ổn định, thuận lợi đối với người nước ngoài thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao là người nước ngoài, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao uy tín, hình ảnh và vị thế của Thủ đô Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài lao động, học tập, du lịch,… đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với người nước ngoài cư trú, hoạt động và hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài trên địa bàn Thành phố. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật trên lĩnh vực xuất nhập cảnh.
Nguyên tắc phối hợp được quy định: (1) Công tác phối hợp quản lý cư trú, hoạt động của người nước ngoài, quản lý hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài trên địa bàn Thành phố phải tuân thủ các quy định pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, hoạt động của người nước ngoài tại Việt Nam; các quy định pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. (2) Đảm bảo chủ động, thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài cư trú, hoạt động trên địa bàn Thành phố và các tổ chức, có chức năng đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. (3) Công an Thành phố là cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu UBND Thành phố quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú và hoạt động của người nước ngoài; các sở, ban, ngành theo chức năng nhiệm vụ được phân công chủ trì tham mưu cho UBND Thành phố quản lý nhà nước về quản lý hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất, không chồng chéo, không làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ và hoạt động chuyên môn của cơ quan liên quan. (4) Yêu cầu trao đổi, cung cấp thông tin về người nước ngoài, công dân Việt Nam và các tổ chức có chức năng đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài phải căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan yêu cầu. Việc sử dụng thông tin phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. (5) Phối hợp trong thanh tra, kiểm tra đối với cư trú, hoạt động của người nước ngoài và hoạt động đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài phải đảm bảo chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung thanh tra, kiểm tra trong cùng thời gian giữa các cơ quan thực hiện thanh tra, kiểm tra nhằm tránh làm phiền hà đến hoạt động thường xuyên của các tổ chức, cá nhân Việt Nam cũng như nước ngoài cư trú, hoạt động.