VĂN BẢN MỚI BAN HÀNH
Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ lãi vay để đầu tư xây dựng hạ tầng vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư mua sắm xe buýt điện, năng lượng xanh
Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 71/2026/QĐ-UBND ngày 19/6/2026 về việc quy định trình tự, thủ tục thực hiện hỗ trợ lãi vay để đầu tư xây dựng hạ tầng vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư mua sắm xe buýt điện, năng lượng xanh và hệ thống hạ tầng (trạm biến áp, trạm sạc, trạm nạp khí) phục vụ xe buýt điện, năng lượng xanh theo chính sách tại Nghị quyết số 37/2025/NQ-HĐND ngày 29 tháng 9 năm 2025 của HĐND Thành phố.
Theo Quyết định, đối tượng áp dụng là các tổ chức, doanh nghiệp trong nước vay vốn tại các ngân hàng, Quỹ đầu tư phát triển Thành phố để đầu tư xây dựng hạ tầng vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư mua sắm xe buýt điện, năng lượng xanh và hệ thống hạ tầng (trạm biến áp, trạm sạc, trạm nạp khí) phục vụ xe buýt điện, năng lượng xanh và các cơ quan quản lý thuộc UBND Thành phố.
Chủ dự án được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 70% tiền lãi vay ngân hàng hoặc lãi vay từ Quỹ đầu tư phát triển Thành phố với toàn bộ giá trị hợp đồng vay để đầu tư xây dựng hạ tầng vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư mua sắm xe buýt điện, năng lượng xanh và hệ thống hạ tầng (trạm biến áp, trạm sạc, trạm nạp khí) phục vụ xe buýt điện, năng lượng xanh.
Chủ dự án được hỗ trợ lãi vay trong toàn bộ thời gian vay vốn nhưng không quá 10 năm.
Trường hợp các khoản vay (gồm cả gốc và lãi) bị quá hạn trả nợ hoặc được gia hạn nợ thì không được tính hỗ trợ lãi suất trong thời gian khoản vay bị quá hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ. Chủ dự án chỉ được gia hạn nợ tối đa 01 lần trong toàn bộ thời gian vay và tổng thời gian quá hạn hoặc gia hạn nợ không quá 03 tháng được tính từ ngày phát sinh nghĩa vụ thanh toán nợ nhưng chủ dự án không thực hiện được việc thanh toán nợ. Trường hợp chủ dự án đã thanh toán nợ quá hạn và trả nợ đúng hạn từ kỳ trả nợ tiếp theo thì chủ dự án tiếp tục được hưởng lãi suất theo quy định tại Nghị quyết số 37/2025/NQ-HĐND.
Trong trường hợp có nhiều chính sách hỗ trợ từ các chương trình, dự án khác nhau cho dự án đầu tư xây dựng hạ tầng vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư mua sắm xe buýt điện, năng lượng xanh và hệ thống hạ tầng (trạm biến áp, trạm sạc, trạm nạp khí) phục vụ xe buýt điện, năng lượng xanh thì chủ dự án được lựa chọn áp dụng một chính sách hỗ trợ cao nhất.
Bên cạnh đó, Chủ dự án nộp hồ sơ đề nghị được xem xét hỗ trợ lãi vay khi đáp ứng đủ các điều kiện: Có dự án đầu tư xây dựng hạ tầng vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, đầu tư mua sắm xe buýt điện, năng lượng xanh và hệ thống hạ tầng (trạm biến áp, trạm sạc, trạm nạp khí) phục vụ xe buýt điện, năng lượng xanh trên địa bàn Thành phố theo quy định tại Nghị quyết số 37/2025/NQ-HĐND.
Có vay vốn tại ngân hàng hoặc Quỹ đầu tư phát triển Thành phố để thực hiện các dự án quy định tại khoản 1 Điều này và sử dụng vốn vay đúng mục đích.
Là đơn vị được Sở Xây dựng ký hợp đồng cung cấp dịch vụ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Cải thiện, nâng cao Chỉ số Cải cách hành chính, Chỉ số Hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Kế hoạch số 233/KH-UBND ngày 19/6/2026 về cải thiện, nâng cao Chỉ số Cải cách hành chính (PAR INDEX), Chỉ số Hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước (SIPAS) năm 2026 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo Kế hoạch, Thành phố phấn đấu đưa chỉ số PAR INDEX đạt khoảng 96,5 điểm, chỉ số SIPAS đạt tối thiểu 87% thuộc nhóm các tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước. 100% nhiệm vụ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cho Thành phố, đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ, hiệu quả. Tập trung cắt giảm 50% thời gian giải quyết TTHC, 50% chi phí tuân thủ TTHC so với năm 2025; 100% hồ sơ công việc tại cấp Thành phố, cấp xã được xử lý trên môi trường điện tử (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước) và sử dụng chữ ký số cá nhân; 100% nhiệm vụ Thành phố giao cho các Sở, ban, ngành, UBND cấp xã được theo dõi, giám sát, đánh giá trên môi trường điện tử. 100% TTHC cung cấp DVC trực tuyến toàn trình đối với các TTHC đủ điều kiện (trong đó, tối thiểu 80% DVC toàn trình trên tổng số TTHC áp dụng tại Thành phố). 100% TTHC được triển khai thanh toán trực tuyến và có phát sinh giao dịch thanh toán trực tuyến; 100% hồ sơ TTHC có phát sinh nghĩa vụ tài chính được thực hiện thanh toán trực tuyến.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Thành phố sẽ tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC; khai thác, tái sử dụng thông tin, dữ liệu số hóa.
Hoàn thành xây dựng, nâng cấp, phát triển các cơ sở dữ liệu chuyên ngành bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ thực hiện TTHC, cung cấp dịch vụ công. Tập trung số hóa dữ liệu, khai thác tái sử dụng dữ liệu để cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, trọng tâm là lĩnh vực tư pháp, giáo dục, y tế, đất đai; thực hiện số hóa 100% hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC.
Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ, quy chế làm việc, các quy chế phối hợp liên thông và tổ chức bộ máy của các Sở, cơ quan tương đương Sở, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, rõ ràng, không chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trên cơ sở cụ thể hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, quy định pháp luật. Rà soát, sắp xếp tinh gọn các đầu mối tổ chức bên trong cơ quan, đơn vị ở Thành phố và cấp xã, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy.
Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác CCHC theo hướng cầm tay chỉ việc, trong đó tập trung tập huấn các nội dung Chỉ số SIPAS, PAR INDEX….; đối tượng tập huấn tập trung là đội ngũ làm công tác CCHC, công chức có liên quan đến giải quyết hồ sơ hành chính, công chức công nghệ thông tin…
Thường xuyên cập nhật, cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin, chỉ đạo điều hành của Thành phố trên Cổng thông tin điện tử của Thành phố, Trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, Chuyên trang CCHC của Thành phố, các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Zalo...); làm infographic, video ngắn, hình ảnh dễ hiểu để truyền tải nhanh chính sách đến người dân và trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và Thành phố.
Tiếp tục đổi mới phương pháp đánh giá, đo lường các chỉ số, tương đồng với phương pháp của Bộ Nội vụ và các cơ quan, tổ chức, nâng cao tính chính xác trong công tác đo lường, đánh giá và tính dự báo để chủ động khắc phục, cải thiện các Chỉ số của Thành phố.
Tăng cường trách nhiệm giải trình và cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu, từng cán bộ, công chức, viên chức trong tiếp nhận, xử lý công việc hành chính; đồng thời công khai, minh bạch kết quả xử lý, các phản ánh, kiến nghị của người dân, tổ chức theo quy định pháp luật. Triển khai thực hiện nghiêm túc kênh tiếp nhận phản ánh kiến nghị của người dân và doanh nghiệp về quy định hành chính qua ứng iHanoi; Zalo; Facebook...
Phấn đấu Chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS) đạt tối thiểu 95% vào năm 2030
Phó Chủ tịch UBND Thành phố vừa ký ban hành Kế hoạch số 234/KH-UBND ngày 19/6/2026 về cải thiện, nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Theo đó, giai đoạn 2026 - 2027, Thành phố đặt mục tiêu đạt 95% người dân đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công (DVC) trực tuyến. Chỉ số SIPAS đạt tối thiểu 89%. Mức độ hài lòng của người dân về cung cấp DVC, nhất là y tế, giáo dục công lập đạt tối thiểu 87%.
Giai đoạn 2028 - 2030, mức độ hài lòng trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của người dân đạt tối thiểu 95%, trong đó, mức độ hài lòng về giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%. Tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã được số hóa trong giải quyết TTHC, dịch vụ công đạt 90%. Tỷ lệ thanh toán trực tuyến trên Cổng DVC quốc gia trên tổng số giao dịch thanh toán DVC của Thành phố đạt 90%. Chỉ số SIPAS đạt tối thiểu 95% (trong đó năm 2028 đạt tối thiểu 90%; 2029 đạt tối thiểu 93% và năm 2030 đạt tối thiểu 95%). Mức độ hài lòng của người dân về cung cấp dịch vụ công, nhất là y tế, giáo dục công lập đạt tối thiểu 90%. Mức độ hài lòng về giải quyết các TTHC lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư đạt tối thiểu 90%. 100% các phản ánh, kiến nghị của người dân về TTHC, quy định hành chính được các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố tiếp nhận, xử lý và thông báo công khai kết quả giải quyết kịp thời theo quy định; đồng thời cập nhật, công khai trên ứng dụng iHanoi, trên Trang thông tin CCHC nhà nước Thành phố.
Kế hoạch đề ra nhiều giải pháp trọng tâm như mở rộng các hình thức thông tin để người dân tiếp cận dịch vụ công của các cơ quan thuận tiện, dễ dàng, nhanh chóng. Tập trung đầu tư đầy đủ trang thiết bị hiện đại, dễ sử dụng để người dân sử dụng trong quá trình giao dịch, giải quyết công việc.
Đổi mới toàn diện việc tiếp nhận, giải quyết TTHC, cung cấp dịch vụ công; đẩy mạnh thực hiện giải quyết TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính trên cơ sở rà soát, tăng cường tái cấu trúc quy trình, khai thác có hiệu quả các dữ liệu đã được số hóa và các biểu mẫu điện tử tương tác để cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin giải quyết TTHC của Thành phố và trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Hoàn thiện quy trình nội bộ, quy trình điện tử đối với các TTHC; tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị định số 118/2025/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Thường xuyên rà soát, cập nhật, đề xuất cấp có thẩm quyền công bố và thực hiện niêm yết công khai kịp thời, đầy đủ các TTHC theo quy định; Đăng tải công khai, đầy đủ nội dung TTHC, cách thức nộp hồ sơ và nhận kết quả, thành phần hồ sơ, quy trình thực hiện, thời gian thực hiện, phí, lệ phí đối với từng TTHC tại Trung tâm phục vụ hành chính công và Điểm phục vụ hành chính công, Cổng Thông tin điện tử của Thành phố và Trang thông tin điện tử của các cơ quan, đơn vị.
Tăng cường nâng cao năng lực, trách nhiệm, kỹ năng, nghiệp vụ và tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp giải quyết công việc cho người dân. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến và kỹ năng giao tiếp hành chính cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã - là lực lượng trực tiếp tiếp xúc, hướng dẫn người dân trong giải quyết thủ tục hành chính.
Thực hiện tốt việc tiếp nhận, xử lý ý kiến góp ý, phản ánh, kiến nghị của người dân; công khai niêm yết số điện thoại, hòm thư điện tử cơ quan tiếp nhận và phản ánh, kiến nghị theo quy định; khuyến khích việc sử dụng công nghệ thông tin để tiếp nhận kịp thời các kiến nghị, phản ánh của người dân.
Triển khai việc khảo sát, lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ cơ quan hành chính và chất lượng cung cấp dịch vụ công tại cơ quan, đơn vị, đảm bảo nghiêm túc, trung thực, đúng quy định (quá trình chọn mẫu điều tra xã hội học; phát, thu phiếu; tổng hợp kết quả) và công khai đầy đủ, kịp thời kết quả khảo sát.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với việc xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch cải thiện, nâng cao sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước và chất lượng cung cấp dịch vụ công tại các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố.
Triển khai quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Công văn số 2907/UBND-NNMT ngày 19/6/2026 về việc triển khai Nghị định số 211/2026/NĐ-CP ngày 16/6/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi.
Theo đó, UBND Thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Công an Thành phố, Sở Công Thương, Sở Y tế, UBND các phường, xã và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 211/2026/NĐ-CP theo quy định; chủ động tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân, cơ sở chăn nuôi, cơ sở sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi và các đối tượng có liên quan biết, thực hiện. Chủ trì rà soát, tham mưu tổ chức thực hiện các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chăn nuôi; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; tập trung đối với các hành vi vi phạm về điều kiện chăn nuôi, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, chăn nuôi trong khu vực không được phép chăn nuôi và các hành vi vi phạm khác theo quy định.
Công an Thành phố, Sở Công Thương, Sở Y tế giao chủ động phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và UBND các phường, xã trong công tác kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực chăn nuôi; tăng cường trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
UBND các phường, xã tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các quy định của Nghị định số 211/2026/NĐ-CP; tăng cường công tác quản lý nhà nước về chăn nuôi trên địa bàn; chủ động kiểm tra, giám sát hoạt động chăn nuôi, sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi và các hoạt động có liên quan; kịp thời phát hiện, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về chăn nuôi; từng bước khắc phục tình trạng chăn nuôi không bảo đảm điều kiện, chăn nuôi trong khu vực không được phép chăn nuôi; thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm.
Sở Nông nghiệp và Môi trường theo dõi, đôn đốc tình hình triển khai thực hiện Nghị định; trường hợp phát sinh khó khăn, vướng mắc hoặc có nội dung vượt thẩm quyền, kịp thời tham mưu, đề xuất UBND Thành phố xem xét, chỉ đạo.