Nhà tù Hoả Lò là một di tích lịch sử đặc biệt của thủ đô Hà Nội. Nhà tù Hoả Lò còn được gọi là Khu đề lao Trung ương (Maison Centrale) do Pháp xây dựng vào năm 1896 trên địa phận thuộc làng Phụ Khánh, tổng Vĩnh Xương, nay ở địa chỉ số 1 Hoả Lò, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Hiện nay, tại khu di tích nhà tù vẫn còn lưu giữ hai tấm văn bia của chùa Chân Tiên, làng Phụ Khánh. Phụ Khánh nguyên là hai thôn Nam Phụ và Nguyên Khánh hợp nhất. Đến thế kỷ XIX, làng Phụ Khánh là làng duy nhất tại kinh thành Thăng Long có nghề thủ công truyền thống chuyên sản xuất các loại bát, đĩa, siêu, ấm, bếp lò bằng đất nung nên làng còn có cái tên nôm na là làng Hỏa Lò. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội, nhằm giam giữ những người Việt Nam yêu nước, chống đối sự cai trị của chúng, thực dân Pháp đã cho xây dựng một nhà tù ngay tại trung tâm Hà Nội. Chúng đã di dời dân làng và đình chùa đi nơi khác, chiếm toàn bộ vùng đất của làng Phụ Khánh để xây dựng nhà tù. Chính vì vậy, nhà tù cũng được gọi luôn bằng cái tên nôm na của làng là nhà tù Hỏa Lò. Mặt khác, tên gọi Hoả Lò (lò lửa) cũng để diễn tả cảnh "địa ngục trần gian", nơi giam giữ những người chống đối chính quyền đô hộ của thực dân Pháp. Bên cạnh nhà tù là Sở Mật thám và Toà đại hình.
Khác với các nhà tù khác như Sơn La, Côn Đảo, Buôn Mê Thuột, Phú Quốc… Những nhà tù đó hầu như nằm cách biệt với khu dân cư, ngược lại nhà tù Hỏa Lò được xây dựng ngay tại trung tâm Hà Nội, là thủ phủ của chính quyền thực dân, bên cạnh nhà tù là Tòa Đại hình và Sở Mật thám, tạo thành bộ ba chân kiềng đàn áp phong trào yêu nước của nhãn dân Việt Nam. Để có mặt bằng 12.908m2 xây dựng nhà tù, chính quyền thực dân pháp đã cho đuổi 48 hộ dân, dỡ bỏ chùa Lưu Ly, chùa Bích Thư và chùa Bích Họa, một số hộ dân của làng Phụ Khánh cũ đã chuyển về ngụ cư tại thôn Thể Giao (quận Hai Bà Trưng ngày nay).
Nhà tù Hoả Lò bắt đầu hoạt động từ năm tháng 1/1899, ngay từ khi chưa hoàn thành. Là nhà giam trung tâm Bắc Kỳ, nhà tù Hoả Lò Hà Nội đã giam giữ một số lượng lớn tù khắp các tỉnh miền bắc với đủ các loại: tù chính trị, tù binh, tù kinh tế (thường phạm), kể cả thành án và chưa kết án. Đây chính là nơi nhiều chiến sĩ cách mạng và các nhà yêu nước của Việt Nam bị đày đoạ và sát hại. Theo thiết kế ban đầu, nhà tù Hoả Lò chỉ giam được khoảng 500 người. Thế nhưng, nó đã nhiều lần được mở rộng để có thêm chỗ giam tù nhân. Những năm 1950 - 1953, Hoả Lò giam cầm đến hơn 2000 người. Nhà tù được xây dựng kiên cố, bao quanh bởi những bức tường bằng đá và bê tông cốt thép, cao trên 4m, dày 0,5m, có hệ thống tháp canh đặt súng và hệ thống dây thép gai nối với điện cao thế, từng được xem như nơi "con kiến không thể thoát" và là nơi bất khả trốn thoát của những người tù tại đây.
Khu nhà giam có 2 lần cổng sắt. Từ trại này sang trại khác phải theo một lối đi, có nhiều cửa sắt, tù nhân khó có thể trốn thoát. Bước qua khu vực cổng chính nhà tù là những dãy hành lang hẹp, tối dẫn đến khu giam giữ tù nhân. Khu giam giữ được ngăn cách bởi một cánh cửa lớn, kiên cố, cao gần 4m, có hệ thống khoá sắt kiên cố, là nơi các tù nhân bị xiềng chân thành hai dãy liên tục trên các bục bê tông. Ánh sáng của khu này chỉ có từ các khung cửa sổ nhỏ tạo nên một khung cảnh tối tăm, u ám. Kế bên khu giam giữ chính là khu cachot (ngục tối) chuyên dùng để giam những người tù bị trừng phạt vì vi phạm nội quy của nhà tù. Trong khuôn viên nhà tù còn có khu xà lim tử hình, trường bắn (nay là Khu tượng đài kỉ niệm anh hùng liệt sĩ), các phòng tra tấn với nhiều hình cụ man rợ... Nhiều tên tuổi chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã bị giam ở đây như Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Lương Bằng, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu, Hoàng Văn Thụ, Đỗ Hoàng Tôn, Trần Đăng Ninh, Nguyễn Cơ Thạch, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Trân, Tạ Quốc Bảo, Hoàng Thị Ái, Quang Thái, Trương Thị Mỹ...
Phía cổng nhà tù có đặt một máy chém. Máy chém này được đưa từ Pháp sang, làm bằng gỗ lim, gồm có khung lưỡi đao, ván đặt người, hộp đựng quan tài, sọt đựng đầu lâu. Lưỡi đao bằng thép đúc, nặng 50kg, treo bằng dây chảo lớn trên khung 8m, rộng 0,8m. Đây là dụng cụ đã hành hình các chiến sĩ cách mạng Việt Nam như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Đức Cảnh, Hồ Ngọc Lãn, Nguyễn Hoàng Tôn...
Sau ngày thủ đô hoàn toàn giải phóng 10/10/1954, nhà tù Hoả Lò được đặt dưới sự quản lí của chính quyền cách mạng. Thời kì 1964 - 1973, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc mà tiêu biểu là trận Điện Biên Phủ trên không với tham vọng "đưa miền bắc Việt Nam trở về thời kì đồ đá". Thế nhưng, pháo đài B52 bất khả xâm phạm bị bắn rơi, Hoả Lò trở thành nơi giam giữ những phi công Mỹ cho đến sau Hiệp định Paris năm 1973. Các tù binh Mỹ, trong đó có Thượng nghị sĩ John McCain hiện nay, gọi nơi đây là "Hilton Hanoi". Năm 1993, nhà tù đã được dời ra khu vực Xuân Phương, Cầu Diễn, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khu nhà tù ở trung tâm được xây thành trung tâm thương mại, chỉ giữ lại một góc nhỏ làm khu di tích lịch sử đặc biệt của Hà Nội để đón du khách đến tham quan. Khu di tích Hỏa Lò hiện còn khá nguyên vẹn với nhiều tư liệu quý, được trưng bày khoa học, là điểm tham quan hấp dẫn, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước mỗi dịp đến Hà Nội.
Có thể nói, Di tích nhà tù Hỏa Lò là một trong những di tích ghi dấu tội ác của thực dân Pháp đối với các chiến sỹ yêu nược, cách mạng bị tù đày. Nó được thể hiện ngay từ việc xây cất kiên cố, ý đồ xây dựng hết sức tàn bạo, yêu cầu về xây dựng và nguyên vật liệu rất cao.Hiện nay, di tích đã và đang tiếp tục đón khách tới tham quan, nghiên cứu, học tập nhằm nâng cao hơn nữa chức năng giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và để ghi nhớ công lao của các chiến sỹ yêu nước, cách mạng bị địch bắt tù đày đã chiến đấu hy sinh tại nhà tù Hỏa Lò từ năm 1896 đến năm 1954.