Nhiều đóng góp thiết thực của công nhân, viên chức lao động Thủ đô đối với dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) (14:18 17/10/2019)


HNP - Dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi), dự kiến, sẽ được Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIV, đang được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Là những người trực tiếp ảnh hưởng từ nhiều điều khoản của Bộ luật này, công nhân viên chức lao động Thủ đô đã có những đóng góp hết sức thiết thực và đã được Liên đoàn Lao động thành phố tổng hợp gửi đến Đoàn ĐBQH TP Hà Nội.

Trong đó, về thời giờ làm việc (điều 105, 107), đề nghị giảm thời giờ làm việc bình thường của người lao động từ “48 giờ trong một tuần” xuống “44 giờ trong một tuần”, đưa vào dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) xin ý kiến Quốc hội. Đề nghị giữ nguyên khung thỏa thuận làm thêm giờ như trong Bộ luật Lao động 2012, nếu tăng đề xuất khi chi trả tiền lương làm thêm giờ cho người lao động phải được tính theo lũy tiến (tạo hàng rào kỹ thuật để các Doanh nghiệp không lợi dụng yêu cầu người lao động làm việc quá sức).

Về tuổi nghỉ hưu (điều 169), LĐLĐ Thành phố đồng ý với việc xem xét để tăng tuổi nghỉ hưu (được quy định tại Khoản 2 Điều 169) trong lần sửa đổi Bộ luật Lao động lần này theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23/5/2018, của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH. Tuy nhiên, mức và lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu phải xem xét đến các yếu tố: Đối tượng, lĩnh vực ngành nghề và cần được thiết kế linh hoạt hơn. LĐLĐ Thành phố đề xuất: Công thức tăng tuổi nghỉ hưu theo các nhóm có thể được khái quát: Công chức (tăng tất cả), Viên chức (tăng một bộ phận lớn), Công nhân lao động (chỉ tăng một bộ phận nhỏ và mức tăng đối với lao động nữ chỉ nên là 58). Đối với Công nhân lao động thuộc nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì áp dụng tuổi nghỉ hưu như hiện nay. Còn đối với Công nhân lao động làm việc trong điều kiện làm việc bình thường có thể tăng tuổi nghỉ hưu lên 58. Tuy nhiên từ đủ tuổi 55 trở lên, Người lao động có quyền được quyết định đề nghị nghỉ hưu sớm và hưởng mức lương hưu tương ứng số năm đóng BHXH, mà không cần phải giám định sức khỏe.

Về tổ chức đại diện của người lao động tại cơ sở (từ điều 170 đến 178), tiếp tục giữ quan điểm chỉ quy định mang tính nguyên tắc và những nội dung bắt buộc phải quy định ở văn bản luật do liên quan đến quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân theo đúng tinh thần của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013. Tất cả các nội dung về điều kiện, thủ tục, hồ sơ đăng ký thành lập, việc thu hồi đăng ký cũng như quyền liên kết của tổ chức của người lao động ngoài hệ thống Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được giao cho Chính phủ quy định chi tiết.

Về tiền lương (điều 91), thống nhất quy định theo hướng hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ của các bên trong thị trường lao động; tạo điều kiện để doanh nghiệp có quyền chủ động trong quản trị doanh nghiệp liên quan đến việc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động trong sản xuất kinh doanh; nâng cao sự chủ động thỏa thuận, thương lượng giữa đại diện người lao động và người sử dụng lao động để quyết định thang lương, bảng lương và định mức lao động. Tuy nhiên, cần có lộ trình và bước đi phù hợp, tránh gây khó khăn, lúng túng cho doanh nghiệp cũng như bất lợi cho người lao động. Đề nghị bổ sung vào Điều 91 dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi quy định giao Chính phủ là cơ quan có trách nhiệm xác định “mức sống tối thiểu” và thời điểm công bố “mức sống tối thiểu” làm căn cứ quan trọng để Hội đồng tiền lương quốc gia xác định mức tiền lương tối thiểu hàng năm. Đề nghị bỏ căn cứ xác định mức lương tối thiếu vùng là: “khả năng chi trả của doanh nghiệp” (Khoản 3 Điều 91), vì đây là yếu tố khó hiểu, khó định lượng, gây khó khăn cho Hội đồng lương quốc gia khi xác định. Mặt khác, năng suất lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở khía cạnh nhất định cũng đã thể hiện được “sức sống”, sự phát triển và khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Về thương lượng và thỏa ước lao động (điều 68, 76), đề nghị quy định trường hợp tại cơ sở chỉ có một tổ chức đại diện của người lao động thì tổ chức đó đương nhiên có quyền thương lượng tập thể. Thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể tại doanh nghiệp cần được xây dựng theo hướng, mỗi doanh nghiệp chỉ có 1 thỏa ước lao động tập thể do công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp thương lượng và ký kết, tùy thuộc vào số lượng thành viên là người lao động của tổ chức nào nhiều hơn và đạt mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ.

Về tranh chấp lao động, đình công (điều 184; 188; 189), đồng ý việc thay đổi cơ cấu tổ chức, hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh, tuy nhiên, cần lưu ý việc bổ sung thẩm quyền của Hội đồng trọng tài lao động có đảm bảo tính khả thi hay không trong điều kiện Hội đồng trọng tài lao động đã được thành lập ở 60 tỉnh, thành phố nhưng chưa hề có một vụ việc nào mà các bên tranh chấp đề nghị Hội đồng trọng tài lao động giải quyết. Đồng thời, cân nhắc quy định phán quyết của Hội đồng trọng tài là chung thẩm và các quy định của Luật Thi hành án dân sự về thi hành phán quyết trọng tài thương mại được áp dụng cho phán quyết của Ban trọng tài lao động. Đề nghị quy định tại Điều 184 quy định về số lượng Hòa giải viên chuyên trách (trong dự thảo chưa đề cập đến vấn đề này), theo đó, mỗi tỉnh, thành phố có từ 1 đến 3 hòa giải viên chuyên trách, căn cứ theo tình hình của địa phương, đơn vị (chưa kể các hòa giải viên kiêm nhiệm).

Về lao động nữ và bình đẳng giới (điều 136, 177), đề nghị bổ sung Điều 136 nghĩa vụ của người sử dụng lao động: “Người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động, tạo điều kiện để lao động nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc”.

Đề nghị bổ sung Khoản 4 Điều 177 quy định về bảo vệ thai sản đối với lao động nữ: Trên thực tế, nhiều lao động nữ ký HĐLĐ có thời hạn khi mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi mà hết hạn HĐLĐ thì đương nhiên chấm dứt HĐLĐ, khi đó lao động nữ rất khó tìm việc làm mới do mang thai và nuôi con nhỏ, sẽ gặp khó khăn về thu nhập, việc làm ảnh hưởng tới việc nuôi dưỡng thai nhi, chăm sóc con dưới 12 tháng tuổi. Do vậy, LĐLĐ Thành phố đề nghị bổ sung quy định: “Khi lao động nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến khi con đủ 12 tháng tuổi”.


Hoàng Anh


Các bài mới đăng

Các bài đã đăng :

Bài viết Xem




Viết bình luận

Họ tên:(*)
Số điện thoại:
Tiêu đề:(*)
Nội dung:(*)
Mã xác nhận:         Lấy lại mã bảo mật