Nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dồi dào
Theo tính toán, trung bình, nguồn phụ phẩm nông nghiệp mỗi năm của thành phố Hà Nội phát sinh khoảng 900.403 tấn rơm rạ, 180.073 tấn trấu, 90.037 tấn cám và 205.650 tấn thân lá từ cây ngô, 41.467 tấn thân lá cây đậu tương. Chỉ tính phụ phẩm của các cây trồng chính là lúa và ngô cho thấy, khối lượng phụ phẩm khoảng 1,5 triệu tấn. Ngoài ra, đối với các loại cây trồng khác như rau màu, lượng phế thải trên đồng ruộng cũng rất lớn. Còn trong lĩnh vực chăn nuôi, phụ phẩm gồm: Chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí… Trong đó, chất thải rắn như phân, thức ăn chăn nuôi; chất thải lỏng có nước thải; chất thải khí phát sinh từ quá trình chăn nuôi… Qua khảo sát, toàn thành phố có tổng đàn gia súc, gia cầm khoảng 32 triệu con, khối lượng chất thải rắn từ chăn nuôi thải ra môi trường khoảng 11,4 triệu tấn. Đây là nguồn chất thải có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường.
Từ thực tế cho thấy, với nguồn phế phẩm nông nghiệp dồi dào chủ yếu là lúa, ngô, đậu tương, rau màu, những phụ phẩm như này hoàn toàn có thể chế biến làm thức ăn cho ra gia súc và cách chế biến cũng đơn giản, phổ biến như: ủ rơm khô dạng cuộn với Urê trong túi; ủ rơm tươi với Urê theo phương pháp đóng bánh, ủ men phục vụ chăn nuôi bò sữa, bò thịt… Ông Nguyễn Xuân Đại, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết: thời gian qua, ở một số huyện khu vực ngoại thành có số lượng đàn gia súc lớn, nông dân đã sử dụng, chế biến rơm rạ, thân cây ngô, phụ phẩm xay xát… làm thức ăn nuôi cho trâu, bò và phục vụ trồng trọt. Đơn cử, xã Hương Ngải (huyện Thạch Thất) ứng dụng chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ trong trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu. Áp dụng mô hình này, nông dân địa phương đã giảm số lần bón phân và không dùng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng.
Tại nhiều doanh nghiệp và địa phương trên địa bàn thành phố cũng áp quy trình tận dụng mọi phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp để chế biến thức ăn cho trâu, bò. Ông Nguyễn Huy Đăng, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết, những thứ tưởng như bỏ đi như: Rơm rạ, lõi ngô, thân lá cây ngô, thân cây đậu, thân cây lạc, cỏ… sau thu hoạch được thu gom và được ủ bằng các loại men vi sinh là nguồn nguyên liệu phong phú để phục vụ chăn nuôi. Đơn cử, Công ty cổ phần Giống gia súc Hà Nội nhiều năm qua đã thu mua rơm rạ ủ với men vi sinh, tạo được nguồn thức ăn tại chỗ phục vụ chăn nuôi bò thịt của công ty. Với HTX Nấm Nghĩa Minh (Xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng) tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để trồng nấm trong môi trường sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Còn tại huyện Ba Vì, tận dụng lợi thế phát triển chăn nuôi gia súc lớn, Hội Nông dân xã Ba Trại xây dựng mô hình thu gom phế thải từ chăn nuôi bò, lợn, gia cầm để xây dựng hầm khí biogas dùng làm chất đốt phục vụ sinh hoạt hằng ngày và làm chất đốt phục vụ chăn nuôi. Theo ông Nguyễn Huy Đăng, các hình thức xử lý, sử dụng phế phụ phẩm nói trên không những góp phần tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, giảm đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân mà còn hướng đến xây dựng mô hình và xây dựng chương trình tăng trưởng xanh cho thành phố Hà Nội.
Cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
Hiệu quả từ sử dụng phụ phẩm, phế phẩm trong nông nghiệp là khá rõ, góp phần tăng thu nhập cho người dân gắn với bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao. Tuy nhiên, kể cả nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã chưa biết tận dụng và ứng dụng các thành tựu khoa học để chế biến phụ phẩm nông nghiệp, gây lãng phí nguồn phế phẩm và giảm thu nhập khi phải bỏ ra các khoản chi phí phục vụ sản xuất. Qua khảo sát cho thấy, phần lớn nông dân thường xử lý các loại phụ phẩm theo thói quen hoặc kinh nghiệm như: Đốt rơm rạ, thân cây ngô, đậu tương tại ruộng; vùi phụ phẩm tại ruộng; dùng để làm chất đốt; làm thức ăn cho gia súc; ủ làm phân bón; sản xuất nấm; làm chất độn trong chăn nuôi và bỏ phụ phẩm tại ruộng không xử lý để tự hoai mục… Tính riêng trong sản xuất lúa gạo, trung bình, mỗi năm, thành phố có xấp xỉ 1,8 triệu tấn phế phụ phẩm (1,44 triệu tấn rơm rạ, 240 nghìn tấn trấu, 120 nghìn tấn cám. Nhưng sau mỗi vụ thu hoạch, có 500 nghìn tấn rơm rạ bị bỏ đi, trong khi đó, chỉ 13% dùng làm thức ăn phục vụ chăn nuôi, ủ làm phân bón, phân lót chuồng chăn nuôi chiếm 11%, đun nấu là 8% và dùng để trồng nấm chiếm 8,1%. Còn trong chăn nuôi, hình thức xử lý phế phụ phẩm chủ yếu là: Ủ phân; hầm khí biogas; thải trực tiếp ra môi trường… Nhìn chung, việc quản lý chất thải trong chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn.
Để sử dụng phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp hữu ích, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước mắt, các cấp, các ngành thành phố cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền giới thiệu mô hình tận dụng phế phẩm nông nghiệp hiệu quả, hướng dẫn nông dân áp dụng. Trong đó, chú trọng triển khai, nhân rộng các mô hình sản xuất sử dụng phế phẩm nông nghiệp trong trồng nấm, đậu tương, khoai tây… Cùng với đó, có cơ chế, chính sách đầu tư, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong xử lý phế phẩm nông nghiệp, nhất là tại các địa phương có diện tích trồng trọt và quy mô chăn nuôi lớn. Đồng thời, các sở, ngành thành phố cần chủ động hơn nữa trong việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, dự án, mô hình sơ chế, chế biến công nghệ để tái sản xuất theo hướng công nghệ cao. Trên thực tế, hiện nay, nhiều công nghệ mới đã được ứng dụng trong xử lý phụ phẩm trong nông nghiệp như sản xuất than, dầu sinh học, năng lượng, vật liệu từ vỏ trấu; vật liệu xây dựng; trồng nấm, linh chi; đồ thủ công mỹ nghệ; xử lý nước thải chăn nuôi… đã đem lại hiệu quả rõ nét.
“Thông qua việc đánh giá hiện trạng sản xuất, thực trạng phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời đề xuất đồng bộ các giải pháp, nhất là các tiến bộ mới để xây dựng mô hình trong xử lý phế phụ phẩm trong nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả đa mục tiêu, không những nâng cao thu nhập cho nông dân, còn giải quyết các vấn đề về môi trường, bảo đảm phát triển bền vững”, ông Nguyễn Huy Đăng nhấn mạnh.